Bẩy thể

Thầy đã nói chúng ta có bảy thể: thể ê te, thể tinh thần và vân vân. Đôi khi rất khó điều chỉnh cho thích hợp từ tiếng Ấn sang những thuật ngữ tâm lý phương Tây. Chúng tôi, người phương Tây, không có lý thuyết nào về điều này trong suy nghĩ của chúng tôi, nhưng tôi đã nhận ra và đã trải nghiệm về một số thể này theo lời thầy đã giải thích hôm qua. Bằng cách nào chúng tôi có thể phiên dịch những thể khác nhau này ra ngôn ngữ của chúng tôi? Thể tâm linh thì không thành vấn đề; nhưng còn thể ê te và thể vía thì phải làm sao?

Bạn có thể phiên dịch chúng. Phương Tây chưa tra tầm vào chiều hướng đó, nhưng những thuyết thần bí của phương Tây thì có từ ngữ, thuật ngữ cho nó. Jung thì giỏi hơn Freud trong việc tìm kiếm bên ngoài tâm thức ở bề mặt. Nhưng Jung cũng là người mới bắt đầu.

Bạn có thể có một thoáng nhìn từ Nhân chủng học của Steiner – một triết gia Đức – và một thoáng từ những bài viết thuộc hội Thông thiên học. Đó là, Học thuyết bí mật của Blavatsky, Isis Unveiled (Những tiết lộ của Isis) và những nguồn khác. Bạn cũng có thể có một thoáng nhìn từ Annie Besant, Leadbeater, Colonel Alcott; rồi từ những học thuyết thuộc trường phái Rosy Cross (Chữ thập hoa hồng); rồi có một truyền thống vĩ đại trong phương Tây của Hermes, những học thuyết vĩ đại gấp ba lần của Hermes.

Có một truyền thống bí mật khác liên quan tới trường phái Essene cổ đại – đó là những người thầy của Ki tô, mà từ đó Ki tô được điểm đạo. Và gần đây, Gurdjieff, P.D.Ouspensky… cũng có thể giúp ích cho bạn. Một cái gì đó đang phân mãnh, và những mãnh này có thể được đặt lại với nhau.

Và kinh nghiệm của riêng bạn cũng giúp ích được nhiều đấy. Tôi cũng đã nói bằng thuật ngữ của bạn mà. Tôi chỉ sử dụng có một từ mà không có trong ngôn ngữ phương Tây:

Nirvanic boby (thể niết bàn), thể thứ bảy.

Sáu thể kia – the physical (thể vật lý/thể đất),

the etheric (thể ê te/ thể lời),

the astral (thể vía/ thể nước),

the mental (thể tinh thần/ thể khí),

the spiritual (thể tâm linh/ thể điện),

và the cosmic (thể vũ trụ/ thể sáng) –

Sáu từ này không phải là từ của Ấn độ. Chỉ có một từ, Nirvanic, thể thứ bảy, là thuộc Ấn độ, bởi vì ở phương Tây, thể thứ bảy chưa bao giờ được nói tới. Điều này không phải bởi vì không có nhiều người biết về nó mà bởi vì thể thứ bảy là một cái gì đó không thể truyền thông.

Nếu bạn thấy khó, thế thì bạn có thể đơn giản sử dụng “thể thứ nhất,” “thể thứ hai,” “thể thứ ba,” “thể thứ tư,” “thể thứ năm,” “thể thứ sáu,” “thể thứ bảy.” Đừng sử dụng bất cứ từ nào khác. Chỉ sử dụng số thứ tự – nhất, nhì, ba, tư – rồi mô tả chúng. Sự mô tả mới là thứ đúng, thuật ngữ không có kết quả đâu.

Bảy thể này có thể được tiếp cận từ rất nhiều hướng. Và đối với giấc mơ, thuật ngữ của Freud, Jung, Adler có thể được sử dụng. Cái họ biết như phần ý thức, cái họ định rõ như phần ý thức, là thể thứ nhất. Phần vô thức là thể thứ hai – không thực sự giống nhau, nhưng gần với nó. Cái họ gọi là “Vô thức tập thể” là thể thứ ba – không giống một cách chính xác, nhưng có một cái gì đó gần đúng với nó.

Và nếu không có từ để dùng chung, chúng ta có thể tạo ra những từ mới. Điều đó luôn tốt hơn bởi vì những từ mới không có những khái niệm cũ. Cho nên khi một từ mới tạo được đưa vào sử dụng, do không có mối nối trước, nên nó trở nên có ý nghĩa hơn và được hiểu sâu hơn. Hãy tạo ra cái từ mà tâm không biết. Khi một cái gì đó chưa được biết, có nghĩa bí truyền mà được sử dụng, thế thì nó sẽ thâm nhập vào thói quen của tâm trí chúng ta một cách sâu xa hơn. Bởi vậy, bạn có thể tạo ra những từ mới cũng được.

Thể ê te nghĩa là cái có liên quan tới bầu trời, không gian. Thể vía nghĩa là cái nhỏ nhất, cái sukshma, cái cuối cùng, cái nguyên tử, bên ngoài nó vật chất ngưng tồn tại. Đối với thể tinh thần, không có khó khăn gì. Đối với thể tâm linh cũng không khó hiểu. Thể vũ trụ cũng vậy.

Sau đó đến thể thứ bảy, the nirvanic (thể niết bàn). Tốt hơn nên hiểu niết bàn nghĩa là gì. Niết bàn nghĩa là sự dừng lại hoàn toàn, cái không tuyệt đối, ngay cả không một hạt giống; mọi thứ đã dừng lại. Theo ngôn ngữ học, từ này có nghĩa là sự tắt lửa của một ngọn lửa, ngọn lửa đã tắt, ánh sáng đã tắt. Bạn không thể hỏi nó đã đi đâu. Nó chỉ dừng hiện hữu.

Niết bàn nghĩa là ngọn lửa đã tắt. Bây giờ, nó không ở đâu cả, hay nó ở mọi nơi. Nó không tồn tại ở một điểm riêng tư nào và ở thời khắc cụ thể nào. Bây giờ nó là không gian lẫn thời gian. Nó là cái tồn tại hoặc là cái không tồn tại; bây giờ điều này không có khác biệt gì. Bạn có thể sử dụng cả hai từ này, bởi vì nó là mọi nơi – nó là mọi nơi hoặc nó không nơi nào.

Còn ở một nơi nào đó thì nó không thể ở khắp nơi, và ở khắp nơi thì nó không thể ở một nơi nào đó. Không nơi và mọi nơi có nghĩa giống nhau. Đối với thể thứ bảy, bạn có thể sử dụng từ nirvanic bởi vì không có từ nào tốt hơn cho nó, và nếu bạn ở trong những trải nghiệm của bản thân mình và chúng chuyển tải cho bạn một cái gì đó song song với nó, thế thì điều này trở nên dễ hơn.

Bởi vì nếu bạn đã không biết bất cứ gì, và chỉ biết có từ ngữ, rỗng tuếch, trống không, không có bất cứ nghĩa gì trong nó… thì từ ngữ chẳng có nghĩa lý gì cả. Nên chỉ có kinh nghiệm mới có nghĩa mà thôi.

Và nếu bạn có kinh nghiệm đằng sau từ, từ sẽ trở nên có nghĩa – nếu không, nó là vô nghĩa và lố bịch. Nó dường như có nghĩa thậm chí khi không có kinh nghiệm, nhưng đó chỉ là vẻ ngoài – một sự lừa dối của ngôn ngữ.

Bởi vậy khi bạn đã kinh nghiệm được một điều gì về nó, thì bạn có thể làm cho kinh nghiệm đó sâu hơn, và có những phương pháp có thể được sử dụng trên những bình diện đặc biệt.

Hãy bắt đầu từ thể vật lý, rồi mọi bước sẽ được mở ra cho bạn. Lúc bạn làm việc trên thể thứ nhất, bạn đã có những thoáng nhìn về thể thứ hai. Nên, hãy bắt đầu từ thể vật lý. Hãy nhận biết nó, nhận biết từng khắc một, khắc này sang khắc khác, và không chỉ bên ngoài – bởi vì chúng ta có thể trở nên nhận biết cơ thể của chính chúng ta khi được nhìn từ bên ngoài.

Tôi thấy tay tôi. Tôi có thể trở nên nhận biết nó khi tôi đã thấy nó từ bên ngoài, nhưng có một cảm giác bên trong về tay tôi khi tôi nhắm mắt lại nữa. Bây giờ cái tay không được nhìn thấy nhưng tôi có một cảm giác, cảm giác bên trong về sự hiện hữu của một cái gì đó. Bởi vậy đừng nhận biết thân thể của bạn như được nhìn thấy từ bên ngoài. Điều này không thể dẫn bạn vào trong. Nếu bạn trở nên nhận biết thân thể của bạn như được nhìn thấy từ bên ngoài, thì bạn không bao giờ có thể trưởng thành với nó, bởi vì cảm giác bên trong thì rất khác.

Khi tôi cảm nhận được nó từ bên trong, cái có bên trong thân thể… tôi có thể thấy một căn nhà từ bên ngoài, đó là một chuyện; từ bên trong, đó là một chuyện khác. Nó là cùng một ngôi nhà nhưng từ bên trong nó là một thứ gì đó khác. Và từ bên trong… sự khác biệt to lớn là khi bạn thấy nó chỉ từ bên ngoài nên bạn không thể biết được bí mật của nó. Bạn chỉ biết những biên giới bên ngoài như nó được người khác trông thấy.

Nếu tôi thấy cơ thể của tôi từ bên ngoài, tôi sẽ thấy nó cũng như người khác thấy nó. Tôi đã không biết nó như nó đang là trong tôi. Và cái điểm từ bên trong đó chỉ có tôi biết được, và không ai khác có thể biết được nó. Tay tôi – bạn có thể thấy nó và tôi có thể thấy nó từ bên ngoài. Nó đã trở thành một cái gì đó khách quan. Khi bạn có thể tham gia và chia sẻ kiến thức với tôi, thì cái tay này khi được nhìn thấy từ hướng đó thì không phải là của tôi. Nó đã trở thành của chung. Bạn cũng có thể biết nó như tôi có thể biết nó.

Chỉ thời khắc tôi thấy nó từ bên trong, nó mới trở thành của tôi theo một cách nào đó mà không thể san sẻ. Bạn không thể biết tôi cảm thấy nó như thế nào từ bên trong. Chỉ có tôi mới có thể biết nó. Cho nên, cái thân xác mà chúng ta biết, thì không phải là cái thân xác của chúng ta. Nó là một cái thân xác được mọi người biết đến một cách khách quan. Nó là cái thân xác mà một thầy thuốc có thể biết được trong phòng thí nghiệm. Nó không phải là cái thể xác mà tôi được đặc quyền biết.

Chỉ có chiều cá nhân mới có thể dẫn bạn vào trong; chiều tập thể không thể dẫn bạn vào trong. Đó là lý do tại sao sinh lý học hay tâm lý học, nếu chỉ được quan sát từ bên ngoài, không đưa chúng ta đến tri thức về những thể bên trong khác – bởi vì điều này, thể thứ nhất, là thể duy nhất có thể chia sẻ.

Còn thể thứ hai thì tuyệt đối riêng tư. Và thể vật lý này nữa, như nó đang là từ bên trong cũng không thể chia sẻ. Chỉ từ bên ngoài, chỉ từ ngoại vi, thì nó mới có thể được chia sẻ.

Cho nên đó là lý do nhiều song đề được tạo ra. Người ta có thể cảm thấy cái đẹp từ bên trong, điều này là một cảm giác nội tâm. Anh ta có thể tự nghĩ mình đẹp nhưng không ai bị thuyết phục về điều này. Khi ấy sẽ có một song đề. Thông thường ai cũng thấy mình đẹp; không ai thấy mình xấu. Chúng ta có thể ép ai đó rằng anh ta xấu, và nếu chúng ta cùng đồng ý như vậy, có lẽ anh ta cũng đồng ý. Nhưng không ai cảm thấy mình xấu từ bên trong, bởi vì từ bên trong thân thể bao giờ cũng đẹp. Cảm giác nội tâm thì lúc nào cũng đẹp.

Cảm giác bên ngoài thì không phải là một cảm giác thật, mà là một mốt, một tiêu chuẩn được áp đặt từ bên ngoài. Một người đẹp ở xã hội này có thể xấu trong một xã hội khác. Một gương mặt đặc biệt có thể đẹp trong một thời kỳ lịch sử nào đó, nhưng không thể trong một thời kỳ khác. Những tiêu chuẩn này được áp đặt từ bên ngoài, nhưng cái cảm giác trong thâm tâm thì luôn luôn là của cái đẹp.

Cho nên nếu không có tiêu chuẩn, không có tiêu chuẩn bên ngoài, thế thì sẽ không có cái xấu – thậm chí vẻ ngoài. Chúng ta có một hình ảnh cố định về cái đẹp và mọi người phải bị so sánh với nó. Đó là lý do có cái xấu và có cái đẹp; nếu không thì sẽ không có. Nếu tất cả chúng ta trở nên mù, thế thì không có ai xấu hết. Mọi người sẽ rất đẹp. Không ai có thể nói rằng điều này sẽ là một mất mát; nó có thể tỏ ra là một mối lợi rất lớn đấy chứ!

Cảm giác về thân thể từ bên trong là bước đầu tiên, và bạn có thể nhận biết về nó trong mọi tình huống. Và trong những hoàn cảnh khác nhau, từ bên trong không phải lúc nào bạn cũng như thế cả đâu. Khi bạn đang yêu, cảm giác bên trong khác; khi bạn đang giận, cảm giác khác. Nên nếu bạn hỏi một vị Phật, ngài sẽ nói, “Tình yêu là cái đẹp” – không phải theo cách nghĩ của chúng ta, mà theo cảm giác bên trong của ngài. Ngài biết khi ngài đang yêu, ngài rất đẹp.

Cảm giác bên trong thân thể là của cái đẹp. Khi có sự thù ghét, giận dữ, ghen tị, thế thì một cái gì đó xảy ra bên trong và nó trở nên xấu. Bạn có thể cảm thấy nó trong những tình huống khác nhau, trong những thời điểm khác nhau, trong những trạng thái tâm khác nhau.

Khi bạn cảm thấy lười, thì khác. Khi bạn cảm thấy năng động, thì khác nữa. Khi bạn buồn ngủ, thì nó cũng khác. Những sự khác biệt này cần phải được biết rõ ràng. Chỉ khi bạn trở nên quen với đời sống bên trong của cơ thể bạn – khi bệnh tật, khi trẻ, khi già, khi ấu thơ. Khi ấy bạn sẽ biết lịch sử bên trong, địa lý bên trong của nó. Và lúc một người trở nên nhận biết về lịch sử của tự thân một cách triệt để từ bên trong, thì thể thứ hai sẽ lộ ra trước mắt người ấy một cách tự động.

Lúc này thể thứ hai sẽ được biết đến từ bên ngoài. Nếu bạn biết thể thứ nhất từ bên trong, thế thì bạn sẽ trở nên nhận biết về thể thứ hai từ bên ngoài cũng như chúng ta đã biết thể thứ nhất của chúng ta từ bên ngoài.

Mọi người đều có hai chiều: bên ngoài và bên trong. Cũng giống như mỗi bức tường có hai mặt – nhìn từ bên ngoài và nhìn từ bên trong – vì thế mọi người đều có một bức tường. Khi bạn vượt qua thể thứ nhất và biết được nó từ bên trong, bạn sẽ trở nên nhận biết về thể thứ hai từ bên ngoài.

Bây giờ bạn đang ở chính giữa: bên trong thể thứ nhất và bên ngoài thể thứ hai. Từ bên ngoài của thể thứ nhất, bạn không bao giờ có thể biết được thể thứ hai. Nó là vòng thứ hai.

Thể thứ hai này, được biết từ bên ngoài, là ê te. Nó không phải vật lý. Nó giống như khói được cô đọng lại.

Bạn có thể băng ngang nó không có trở ngại nào. Nhưng nó không được rõ ràng; đó là lý do tôi sử dụng từ “khói cô đọng,” không “rõ ràng”. Bạn có thể đi qua nó không có trở ngại gì, nhưng bạn không thể nhìn vào trong nó từ bên ngoài. Thể thứ nhất thì không trong suốt và cũng không có khói. Nó đặc. Thể thứ hai thì cũng giống như thể thứ nhất về hình dáng – nó giống hệt, là một cái bóng mờ của thể thứ nhất.

Khi thể thứ nhất chết, thể thứ hai không chết liền. Nó du hành cùng bạn. Nhưng trong vòng mười ba ngày, nó cũng chết. Nó sẽ phân tán, bốc hơi. Thể thứ hai này – khi bạn có thể biết được nó trong khi thể thứ nhất đang còn hiện diện trong đời, thì bạn có thể phân biệt được chúng một cách rõ ràng.

Thể thứ hai này có thể thoát ra khỏi thể vật lý của bạn. Đôi khi trong thiền, thể thứ hai này đi lên hay đi xuống, và bạn có một cảm giác là lực hấp dẫn không tác động lên bạn. Mắt bạn vẫn nhắm; bạn có cảm giác bạn đã đi lên, bạn đã rời mặt đất, và bạn cũng biết rằng bạn lúc nào cũng ở trên mặt đất.

Nhưng khi bạn mở mắt ra, bạn đang ở trên đất và bạn biết lúc nào bạn cũng ở trên mặt đất. Cảm giác này có ra là do thể thứ hai, chứ không do thể thứ nhất. Thể thứ hai không bị lực hút của trái đất. Khoảnh khắc bạn biết được nó, bạn sẽ cảm thấy có một sự tự do nào đó chưa từng được biết tới đối với thể vật lý, bởi vì lực hấp dẫn là một sự trói buộc. Có một sự tự do tuyệt vời đến với bạn từ bên ngoài mà không bị tác động bởi lực hấp dẫn, bạn có thể đi ra ngoài thể xác của bạn và quay trở lại.

Đây là bước thứ hai: nếu bạn muốn biết thể thứ hai của bạn từ bên trong, bạn phải có những kinh nghiệm bên ngoài cơ thể. Và phương pháp thì không khó – chỉ ao ước được ở bên ngoài và bạn sẽ được ở bên ngoài. Ao ước này là sự thành tựu. Đối với thể thứ hai, không cần nỗ lực gì bởi vì nó không bị lực hút của trái đất. Khó khăn cho thể thứ nhất là do bị ảnh hưởng của lực hút trái đất. Nếu tôi muốn đến nhà bạn, tôi sẽ phải vật lộn với lực hấp dẫn. Đó là lý do có nỗ lực, gắng sức. Nhưng nếu không có lực hấp dẫn, thế thì chỉ cần ý muốn thôi cũng đủ rồi: việc đó sẽ xảy ra.

Cho nên, khi bạn đi vào trong thể thứ nhất của bạn và bên ngoài thể thứ hai, chỉ ước, chỉ đợi. Chỉ có một điều cần phải hiểu: cái ước muốn đó phải toàn bộ. Nó không được đối kháng. Nó không được có bất cứ nghi ngờ nào. Nó không được ở trong hình dạng của “hoặc cái này/ hay cái kia”. Không được nói “Tôi sẽ ở bên ngoài,”… và cùng lúc nói “Tôi có thể không ở ngoài…” Nếu hai ý muốn này cùng có mặt, chúng sẽ tự tiêu diệt lẫn nhau.

Thể ê te là cái thể bị bắt phải làm việc trong thôi miên. Thể thứ nhất thì không bị. Trong giấc ngủ thôi miên, nó là thể thứ hai. Đó là lý do một người có mắt bỗng nhiên mù chỉ vì tin nhà thôi miên nói “Bạn đã bị mù.” Bấy giờ, anh ta không thể thấy. Đó là thể thứ hai, thể ê te đã bị ảnh hưởng; và lời gợi ý đã đi vào thể thứ hai.

Đó là lý do trong thôi miên, trước tiên bạn phải ở trong một sự hôn mê sâu – chỉ khi đó thể thứ hai mới được đạt đến. Một người khỏe mạnh bình thường có thể bị liệt chỉ bằng cách gợi ý với anh ta rằng anh ta bị liệt, rằng “Bạn bị liệt.” Nhà thôi miên không được sử dụng bất kì từ ngữ nào tạo nên sự nghi ngờ. Ngay cả khi ông ta nói, “Tôi nghĩ dường như bạn đã bị mù,” điều này không hiệu quả. Ông ta phải xác định, chắc chắn, tuyệt đối một cách chắc chắn rằng bạn bị mù. Chỉ khi ấy lời gợi ý mới có tác dụng.

Trong thể thứ hai chỉ cần ao ước rằng “Tôi ở bên ngoài,” và bạn sẽ ở bên ngoài. Sự hôn mê do thôi miên có thể giúp ích. Nếu cái thể thứ nhất của bạn ngủ, thế thì giấc ngủ thôi miên… không phải giấc ngủ bình thường, bởi vì trong giấc ngủ bình thường, thể thứ nhất vẫn còn quan trọng.

Giấc ngủ thông thường, giấc ngủ hàng ngày, tùy thuộc vào thể thứ nhất. Nó không thuộc thể thứ hai. Chỉ có thể thứ nhất bị kiệt sức từ lao động hàng ngày, công việc, căng thẳng. Giấc ngủ bình thường là sự thư giãn. Trong giấc ngủ thôi miên, trong thôi miên, thể thứ hai được đưa vào giấc ngủ. Và nếu thể thứ hai được đưa vào giấc ngủ, thế thì bạn có thể làm việc với nó.

Và có nhiều thứ có thể làm việc qua nó, bởi vì khi bạn bị bất kì bệnh nào, bảy mươi lăm phần trăm bệnh của bạn đến từ thể thứ hai và chúng truyền vào thể thứ nhất. Chỉ có hai mươi lăm phần trăm là bệnh của thể thứ nhất, rồi chúng đi vào thể thứ hai.

Thể thứ hai dễ bị ảnh hưởng đến nỗi trong mỗi trường đại học y khoa, sinh viên năm nhất luôn luôn mắc cùng một loại bệnh… cùng một chứng bệnh túm lấy chúng, căn bệnh mà chúng đang được dạy. Chúng bắt đầu có những triệu chứng. Nếu bệnh đau đầu và các triệu chứng của nó được thảo luận, thế thì mọi người đi vào bên trong mình một cách không hay biết, và nghĩ về những triệu chứng – xem chúng có bị đau đầu nào không.

Bởi vì việc đi vào trong này trở thành ê te, nên những lời gợi ý bị tóm và những cơn đau đầu được tạo ra, được phóng chiếu.

Cái đau của chuyển dạ, cái đau của sinh đẻ, không thuộc thể thứ nhất; nó thuộc thể thứ hai. Nên qua thôi miên, việc sinh đẻ có thể trở nên hoàn toàn không đau – nó chỉ là một gợi ý. Có nhiều xã hội trong đó phụ nữ không cảm thấy đau khi chuyển dạ, khi sanh con.

Cái đau này không nằm trong tâm trí họ. Nhưng mỗi nền văn minh đã tạo ra những gợi ý chung; chúng trở thành một phần của mọi người.

Dưới sự thôi miên thì không có đau đớn. Thậm chí có thể tiến hành phẫu thuật – rất đau – dưới sự thôi miên thì không có đau đớn gì.

Bởi vì thể thứ hai… nếu thể thứ hai có được sự gợi ý rằng không có đau, thế thì sẽ không đau. Đối với tôi, mỗi loại đau và mỗi kiểu khoái lạc bắt nguồn từ thể thứ hai. Nó truyền sang cho thể thứ nhất. Nên nếu gợi ý thay đổi, cùng điều đó có thể trở nên đau, cùng điều có thể trở thành một khoái lạc – cùng một thứ!

Thay đổi lời gợi ý, thay đổi tâm trí ê te, và mọi thứ sẽ được thay đổi, chỉ bằng ước muốn toàn bộ. Khi ước muốn toàn bộ thì nó trở thành ý chí; đó là sự khác biệt duy nhất. Khi bạn đã ước muốn một cách toàn bộ, hoàn toàn, bằng tất cả tâm mình, nó sẽ trở thành ý chí; nó sẽ trở thành sức mạnh ý chí. Và bạn có thể đi ra ngoài thể thứ nhất.

Khi bạn đi ra ngoài thể thứ nhất thì có khả năng cho việc biết thể thứ hai từ bên trong, nếu không thì không thể được – bởi vì khi bạn đi ra ngoài nó, vị trí của bạn sẽ thay đổi. Bây giờ, bạn không ở giữa cái bên trong của thể thứ nhất và bên ngoài của thể thứ hai. Bấy giờ bạn ở trong thể thứ hai… bởi vì bạn đã đi ra ngoài. Bây giờ thể thứ nhất không hiện hữu.

Bây giờ bạn có thể ứng xử với thể thứ hai từ bên trong như cách bạn đã ứng xử với thể thứ nhất của bạn. Bây giờ hãy nhận biết về cách thức làm việc bên trong của nó, những phần bên trong, những cơ chế bên trong, những tầng lớp của nó. Bây giờ bạn có thể trở nên nhận biết về nó. Và một khi bạn ở bên ngoài nó, thế thì không có khó khăn chi.

Ngay cả khi bạn ở bên trong nó, bạn cũng có thể nhận biết được nó. Trong lần trải nghiệm đầu tiên thì rất khó, nhưng sau đó bạn sẽ luôn ở bên trong hai thể: thể thứ nhất, thể thứ hai và bạn. Điểm chú ý của bạn bấy giờ sẽ là ở dưới hai tờ giấy, bên ngoài hai vòng tròn.

Khoảnh khắc bạn ở trong thể thứ hai, bạn sẽ ở ngoài thể thứ ba: thể vía. Và đối với thể vía, thậm chí không cần bất cứ ý chí nào. Chỉ ao ước. Không có vấn đề toàn bộ ở đây. Chỉ một lời ước đơn giản và bạn có thể đi vào trong thể thứ ba bởi vì nó trong suốt. Thậm chí bạn có thể nhìn vào trong từ bên ngoài. Nó như một bức tường thủy tinh – bạn ở bên ngoài và bạn có thể nhìn vào trong.

Cho nên thậm chí không có ước muốn ở đây. Nếu bạn muốn đi vào trong, bạn có thể đi vào. Nó lỏng như thể thứ hai, nhưng rõ ràng. Nên nó không phải là khói đen, mà đúng hơn là khói sáng – khói giống như những hạt ánh sáng. Khói sáng rực, rõ ràng. Bạn có thể đi vào trong – không cần lời ước nào, bạn cũng sẽ đi được. Cái lúc bạn ở bên ngoài, bạn sẽ ở bên trong. Lần đầu bạn sẽ không biết sự khác biệt – liệu bạn ở bên ngoài hay ở bên trong – bởi vì khoảng cách quá trong suốt.

Nếu bạn đã làm việc qua ba thể đầu, thể thứ tư sẽ tuyệt đối không còn ngăn ngại theo một cách nào đó.

Kích cỡ của thể thứ ba như thế nào?

Cũng vậy, kích cỡ sẽ bằng nhau. Kích cỡ chỉ thay đổi với thể thứ sáu. Cho tới thể thứ năm, kích cỡ là một. Vật chất sẽ thay đổi, nhưng kích cỡ sẽ y vậy cho tới thể thứ năm. Với thể thứ sáu, kích cỡ sẽ là vũ trụ. Và với thể thứ bảy, không còn kích cỡ nào nữa, ngay cả kích cỡ vũ trụ.

Bên trong thể thứ ba và thể thứ tư không có tường vách. Nó chỉ là một biên giới, ngay cả không phải là một bức tường trong suốt. Nó không có vách. Nó là vô vách. Vì vậy không có khó khăn, không cần phương pháp. Người mà đã đạt tới thể thứ ba thì có thể đạt tới thể thứ tư một cách dễ dàng.

Bên ngoài thể thứ tư sẽ có nhiều khó khăn, bởi vì nó đã bên ngoài thể thứ nhất, bởi vì bây giờ địa hạt tinh thần sẽ dừng lại. Thể thứ năm là thể tâm linh. Lại có bức tường, không phải bức tường theo nghĩa của thể thứ nhất, thứ hai… Bức tường này thuộc những chiều hướng; bức tường này thuộc những bình diện khác.

Bốn thể này không phải là bốn, mà có liên quan tới một bình diện, trên cùng một bình diện. Tới đây bạn thay đổi câu truyện khác, bình diện khác. Trước đây sự phân chia này là chiều ngang. Bây giờ sự phân chia này là chiều dọc. Bây giờ sự phân chia là như “lên, xuống.” Thế thì có một bức tường – và một bức to lớn hơn từ thể thứ tư sang thể thứ năm, bởi vì cách của chúng ta nhìn là nhìn ngang.

Chúng ta nhìn về phía trước, chúng ta nhìn về phía sau; mắt của chúng ta thì nằm ngang, tầm nhìn của chúng ta là chiều ngang. Nó không từ dưới lên trên. Đó là lý do mắt chúng ta được đặt nằm ngang. Bởi vì mắt là những bộ phận của thể thứ tư, thể tinh thần. Có mọi khả năng cho việc mù tinh thần: một người mà có đôi mắt hoàn toàn ổn – cơ quan mắt không bị trục trặc, không bị khiếm khuyết – nhưng người đó vẫn có thể bị mù.

Mù tinh thần là có thể xảy ra. Nó có xảy ra đấy!

Nếu tâm trí tập trung sự chú ý của nó, hoặc dịch chuyển sự chú ý của nó, mắt sẽ bị mù. Tất cả chúng ta có thể bị mù tạm thời. Nhà của bạn vừa bị bốc cháy: khi bạn đang chạy trên đường, ai đó đi ngang qua bạn, bạn không thể thấy anh ta; anh ta không được nhìn thấy bởi vì sự chú ý tinh thần của bạn đang ở một nơi nào đó khác. Mắt không đang làm việc.

Bạn nhìn lơ đãng; bạn có thể nhìn nhưng bạn vẫn có thể mù, bởi vì sự chú ý giờ đây không ở phía sau chúng. Mắt có thể trống trơn. Trong sợ hãi, chúng trở nên trống rỗng; chúng nhìn mà không thấy.

Từ thể thứ tư sang thể thứ năm, có một sự thay đổi về bình diện. Bây giờ ở thể thứ năm, bạn sẽ không nhìn ra ngoài và nhìn vào trong, mà nhìn lên và nhìn xuống. Khi bạn vẫn còn ở trong thể thứ tư, bạn sẽ phải nhìn xuống; tâm trí luôn luôn nhìn xuống. Đó là lý do yoga chống lại tâm trí. Nó là dòng chảy xuống, cái chảy xuống, giống như nước. Nước chảy xuống, và chảy xuống; bản chất thực của nó là chảy xuống. Nó không bao giờ có thể tự chảy lên.

Nên nước không bao giờ có thể là biểu tượng của bất kì hệ thống tâm linh nào. Nhưng lửa thì có thể – của rất nhiều hệ thống – bởi vì lửa đi lên. Nó không bao giờ đi xuống. Nó đã trở thành một vật biểu tượng. Từ thể thứ tư đến thể thứ năm, lửa là biểu tượng. Người ta phải nhìn lên và phải ngưng nhìn xuống.

Phương pháp sẽ là gì? Làm cách nào để nhìn lên? Và cách gì?

Chắc hẳn bạn đã nghe nói rằng trong thiền, mắt nên nhìn lên, chúng phải nhìn lên hướng về trung tâm của luân xa agya (luân xa thứ sáu – con mắt thứ ba). Nên nhắm mắt lại và nhìn hướng lên, như thể bạn sắp nhìn vào trong sọ của bạn, không nhìn xuống. Mắt của bạn phải tập trung vào sọ của bạn, đi lên.

Con mắt chỉ là biểu tượng. Vấn đề thực sự là ở cái nhìn. Nhưng cái nhìn của chúng ta, khả năng thấy của chúng ta, được liên kết với mắt, nên chiều của mắt trở thành chiều của hướng nhìn. Nếu mắt của bạn nhìn lên thì hướng nhìn của bạn cũng đi lên.

Trong thể thứ tư – và nhiều hệ thống bắt đầu với thể thứ tư này. Raja yoga, vân vân, chúng đều bắt đầu từ thể thứ tư. Chỉ có hatha yoga bắt đầu từ thể thứ nhất. Những yoga khác… bắt đầu từ một nơi nào đó khác. Như Thông thiên học bắt đầu từ thể thứ hai, hatha yoga bắt đầu từ thể thứ nhất. Có những hệ thống bắt đầu từ thể thứ ba. Raja yoga bắt đầu từ thể thứ tư.

Thể này có thể được chọn và bởi vì sự khai hóa liên tục tiến bộ, nên nhiều người có thể bắt đầu từ thể thứ tư.

Nếu họ đã làm việc trong những đời quá khứ của mình trên thể thứ nhất, thứ hai và thứ ba, chỉ khi ấy mới có thể dùng được thể thứ tư. Nên những người nghiên cứu raja từ kinh điển hay từ những ông thầy, sẽ không biết được liệu họ đã làm việc qua ba thể của họ hay chưa, thì buộc phải vỡ mộng ở một nơi nào đó ở đây hay ở chỗ khác – bởi vì họ không thể bắt đầu từ thể thứ tư. Ba thể đầu phải được vượt qua, rồi mới tới thể thứ tư!

Và thể thứ tư là thể cuối cùng mà bạn có thể bắt đầu. Người ta không thể bắt đầu từ thể thứ năm; thể thứ tư là thể cuối cùng. Nên có bốn loại yoga: hatha yoga, thể thứ nhất; mantra yoga, thể thứ hai; bhakti yoga, thể thứ ba và raja yoga, thể thứ tư. Đây là những sự phân chia với những thể. Cho nên vào thời xưa, mọi người đều bắt đầu bằng thể thứ nhất, nhưng bây giờ có quá nhiều hạng người.

Người nào đó đã làm việc tới thể thứ hai, người khác tới thể thứ ba, nên có thể có nhiều khác biệt. Nhưng đối với giấc mơ, người ta phải bắt đầu từ thể thứ nhất. Chỉ khi ấy bạn mới có thể biết toàn bộ phạm vi của nó, toàn bộ chuỗi của nó.

Trong thể thứ tư, tâm thức của bạn phải giống như một ngọn lửa – đi lên – và điều này phải được xem lại. Ví dụ, trong thể thứ tư nếu tâm trí đi về hướng dục, nó giống như nước đang đi xuống; trung tâm dục thì hướng xuống.

Nếu nó đi vào bất cứ mối quan hệ nào, trung tâm quan hệ – trái tim – thì hướng xuống. Bây giờ người ta phải bắt đầu nhìn lên bằng mắt, không nhìn xuống bằng mắt.

Nếu tâm thức sắp đi lên, nó phải bắt đầu từ trung tâm, cái ở trên mắt, không ở dưới mắt. Và chỉ có một trung tâm, đó là agya, phía trên hai mắt bạn – cái này đã được biết đến như con mắt thứ ba. Bây giờ hai mắt phải nhìn lên hướng về mắt thứ ba.

Con mắt thứ ba này đã được nhớ đến bằng rất nhiều cách. Ở Ấn độ, sự khác biệt giữa một cô gái còn trinh và một cô gái đã lập gia đình được đánh dấu bằng một dấu son trên con mắt thứ ba. Một trinh nữ không thể nhìn lên. Cô ấy buộc phải nhìn về trung tâm dục. Nhưng vào lúc cô ấy lập gia đình, cô ấy phải nhìn lên. Bây giờ dục tính phải thay đổi. Bây giờ cô ấy phải trở thành một bà mẹ.

Bây giờ cuộc hành trình của cô ấy hướng về vô dục, hay bên ngoài dục. Cô ấy phải nhớ về con mắt thứ ba cho nên một dấu son, một tilak, được sử dụng để cho cô ấy nhớ rằng bây giờ cô ấy không còn trinh, cô ấy không còn là một cô gái. Cô ấy phải nhìn lên.

Có những tilaks (dấu son) ấn lên trên trán của nhiều kiểu người: một sannyasin, một người thờ cúng – những dấu này có nhiều màu. Và những người này, nếu có thể, có đàn hương, có chandan, bởi vì trung tâm này là một trung tâm bốc lửa. Nó phải luôn luôn được làm mát. Khoảnh khắc hai mắt bạn nhìn vào con mắt thứ ba, một trung tâm lửa vĩ đại được tạo ra; có một cảm giác đang bốc cháy. Con mắt thứ ba đang bắt đầu mở ra, vì thế nó phải được làm nguội đi. Đàn hương được sử dụng ở Ấn độ; đó là thứ duy nhất có thể được sử dụng vào thời đó.

Tuy nhiên ngày nay không có gì tốt hơn nó, vì nhiều lý do; nó mát và có một mùi hương đặc thù nào đó. Mùi hương đó cũng có liên quan đến thể thứ tư và cái siêu việt, mùi hương đặc thù đó… chắc chúng ta đã nghe nói rằng những con rắn thường quấn quanh những cây đàn hương. Hương của cây đàn hương trở thành một điểm thu hút – thu hút lên – nên mùi hương cũng trở thành một sự thu hút lên, một loại gọi nhớ: sự mát mẻ của nó, mùi hương của nó, và chỗ đặc biệt cho nó.

Nếu bạn nhắm mắt lại – bạn không đang thấy – và tôi chỉ đặt ngón tay của tôi tại con mắt thứ ba của bạn… tôi chưa chạm, ngón tay tôi không đang chạm một điểm đặc biệt nào, bạn vẫn sẽ bắt đầu cảm nhận nó. Một cái gì đó bắt đầu hoạt động. Với cái lực như thế này cũng đủ rồi. Thậm chí chưa chạm, chỉ đặt ngón tay. Ngay cả điều này cũng quá đủ. Cho nên mùi hương, cái chạm tinh tế của nó và sự mát dịu của nó, cũng đủ rồi. Khi ấy, sự chú ý của bạn bao giờ cũng chảy từ hai mắt tới chỗ con mắt thứ ba.

Vì thế tại thể thứ tư – để tạo nó ra – chỉ có một kỹ thuật, một phương pháp, và đó là nhìn lên trên. Shirshasan đã được sử dụng như một phương pháp để làm điều này. Shirshasan, tư thế đứng ngược đầu, đã được sử dụng như một phương pháp để đạt tới nó bởi vì mắt của chúng ta thường nhìn xuống. Nếu bạn đứng bằng đầu, bạn vẫn sẽ nhìn xuống, nhưng bây giờ cái hướng xuống là hướng lên. Cái dòng chảy xuống của bạn sẽ được chuyển thành dòng chảy lên.

Nên trong thiền, một số người không biết gì cả, sẽ bước vào tư thế ngược đầu. Họ sẽ bắt đầu thực hành shirshasan một cách vô thức, bởi vì dòng chảy đã thay đổi. Và tâm trí của họ thì được điều chỉnh, được điều kiện hóa, để chảy xuống. Nên giờ đây, toàn bộ điều này đã trở nên khác hẳn, không còn phù hợp – họ chỉ có đi xuống bằng đầu của họ. Bây giờ họ sẽ cảm thấy dễ chịu bởi vì họ đã đạt được cùng tư thế đó. Dòng chảy xuống có đó – mặc dù bây giờ nó không chảy xuống, nó đang lên – bởi vì đối với hướng lên và hướng xuống, nó không liên quan đến vị thế địa lý; hướng lên này có liên quan đến những trung tâm của bạn.

Shirshasan được sử dụng như là một phương tiện để chuyển từ thể thứ tư sang thể thứ năm. Điều thứ nhất cần phải nhớ và cần được nhấn mạnh là nhìn lên. Điều này có thể được làm bằng nhiều cách – với tratak, với sự tập trung vào mặt trời, với nhiều thứ khác nữa. Nhưng tốt hơn là nên thực hiện nó từ bên trong. Chỉ cần nhắm mắt lại.

Nhưng trước tiên, bạn phải vượt qua được bốn thể đầu đã. Chỉ khi đó điều này mới giúp ích. Nếu không, nó không ích lợi gì đâu. Nếu không, nó có thể tỏ ra là một sự phiền toái. Nó có thể tạo nên nhiều loại bệnh tinh thần bởi vì khi bị điều chỉnh, hệ thống này sẽ bị đảo lộn. Bốn thể nhìn ra ngoài, tâm trí của bạn đang đứng bên ngoài thể thứ nhất của bạn, và với tâm trí bên trong của mình bạn đang đi lên… có mọi khả năng cho kết quả là bệnh tinh thần phân liệt.

Và đối với tôi, bệnh tinh thần phân liệt là kết quả của những thứ này. Nên tâm lý học bình thường không thể đi sâu vào bệnh tinh thần phân liệt. Người bệnh tinh thần phân liệt có một tâm trí làm việc theo những hướng đối ngược nhau cùng một lúc: đứng bên ngoài, nhìn bên trong; đứng ở dưới, nhìn lên trên; đứng bên ngoài, nhìn lên trên.

Những nền văn minh của chúng ta và tôn giáo của chúng ta đã là nguyên nhân cơ bản cho việc chia chẻ tính cách của nhân loại. Họ đã không nhìn vào trong cái hài hòa toàn vẹn. Có những giảng sư đã dạy những phương pháp đi lên cho những người mà những người này thậm chí chưa ở bên trong thể vật lý của chính họ. Phương pháp này bắt đầu vận hành và một phần của người đó vẫn còn bên ngoài thân thể anh ta trong khi phần thứ hai đi lên, nên sẽ có một vực thẳm giữa hai cái này. Anh ta sẽ trở thành hai con người: đôi khi là cái này, đôi khi là cái kia; một người hai mặt.

Có mọi khả năng là một người có thể đồng thời trở thành bảy người. Thế thì sự chia chẻ đã hoàn chỉnh. Khi ấy chúng ta nói có nhiều “con ma” trong anh ta. Tự bản thân anh ta đã trở thành bảy con ma. Một phần ở một nơi nào đó, phần khác ở một nơi khác. Một phần bám vào thể thứ nhất đang đi xuống; phần khác bám vào thể thứ hai; phần khác bám vào thể thứ ba; cái khác thì đang đi lên, cái khác nữa thì đang đi đâu đó. Anh ta trở thành một người không có trung tâm. Bây giờ trong anh ta không có trung tâm.

Gurdjieff từng nói rằng người như thế thì giống như một ngôi nhà mà người chủ vắng mặt và mọi đầy tớ tuyên bố mình là chủ. Mọi đầy tớ của căn nhà đều tuyên bố mình là chủ nhân. Không ai có thể phủ nhận anh ta bởi vì chủ nhà đã đi vắng. Ai cũng có thể đến ngôi nhà đó, gõ lên cửa, và một người đầy tớ nào đó tình cờ ở gần đấy sẽ trở thành chủ nhân.

Người đó hỏi, “Ngôi nhà này thuộc về ai? Đầy tớ này nói, “Về tôi.” Ngày khác, người đó lại đến. Anh ta gõ cửa, một đầy tớ khác tình cờ đang đi ngang qua và tự nhận mình là chủ. Khi ấy người khách lấy làm bối rối với việc ai là chủ. Người như thế đã trở nên không có trung tâm nào.

Chúng ta cũng giống như vậy đấy, nhưng vẫn còn thích nghi với hoàn cảnh. Trung tâm này mờ nhạt; sự tập trung đã bị tản mác; người chủ vắng mặt hay ngủ. Và mỗi phần của chúng ta đều tuyên bố quyền sở hữu chủ của mình. Khi có sự thôi thúc dục, dục trở thành chủ. Nó là proto, mono. Nó sẽ phủ nhận mọi phần khác. Luân lý đạo đức của bạn, gia đình của bạn, tôn giáo của bạn – mọi thứ sẽ bị phủ nhận vào lúc này.

Dục trở thành chủ nhân tuyệt đối; nó là người làm chủ. Nó sẽ sử dụng ngôi nhà như một vị chủ nhân, không phải như người tớ. Và trông kìa! Khi dục đã đi ra, và nỗi thất vọng xuất hiện sau đó… Và khi ấy trong thất vọng, lý trí xuất hiện và nói, “Tôi là chủ. Điều này vô nghĩa, điều này sai,” và nó sẽ tuyên bố toàn bộ ngôi nhà là của nó. Nó sẽ không cho bất cứ phòng nào làm tình. Đạo đức sẽ đến sau với những nguyên tắc, với những lời dạy, với những điều kiện. Chúng sẽ đòi quyền sở hữu ngôi nhà.

Mọi phần đều đòi quyền sở hữu chủ một cách trọn vẹn. Khi có giận hờn, bạn trở thành cơn giận; giận là chủ. Bây giờ không có lý trí, bây giờ không có ý thức, bây giờ không có thứ gì khác. Đó là khó khăn. Chúng ta không thể hiểu được nhiều người bởi lý do này.

Một người đang rất đáng yêu trở nên giận dữ và không còn đáng yêu nữa, và chúng ta bối rối không biết chuyện gì đã xảy ra – liệu anh ta có đáng yêu hay không. Nhưng đáng yêu cũng là đầy tớ, và giận dữ cũng là đầy tớ; vì người chủ đang vắng mặt hay đang ngủ. Cho nên thông thường, bạn không thể lệ thuộc vào bất cứ người nào khác bởi vì anh ta chưa là chính mình; đầy tớ nào cũng có thể làm việc này. Anh ta chưa phải là một; anh ta chưa phải là cái hợp nhất.

Nên điều tôi đang nói là: thử nghiệm với việc nhìn lên trên không nên được thực hiện trước khi bạn đã vượt qua được bốn thể đầu tiên. Nếu không, sẽ có một sự chia chẻ mà sự chia chẻ này sẽ là không thể, gần như không thể được kết nối, và người ta sẽ phải đợi đời sau để bắt đầu và bắt đầu lại. Cho nên tốt hơn là nên thực hiện điều này ngay từ đầu, từ từ.

Nếu bạn đã thành tựu – ví dụ, nếu bạn đã thành tựu ba thể đầu tiên trong kiếp sống trước của bạn, bạn sẽ vượt qua ba thể này trong tích tắc. Vì thế không có khó khăn gì và không cần thiết hỏi nơi bắt đầu. Hãy bắt đầu từ thể thứ nhất; nếu bạn đã vượt qua bất cứ thể nào trong công việc trước đây của bạn thì bạn sẽ vượt qua chúng một lần nữa trong vòng một khắc.

Sẽ không có khó khăn gì khi vượt qua chúng một lần nữa. Bạn biết lãnh thổ; bạn biết đường. Khoảnh khắc chúng đến trước bạn, bạn sẽ nhận ra chúng, vì bạn đã vượt qua chúng rồi. Sau đó bạn có thể đi tiếp. Do đó, sự nhấn mạnh của tôi là hãy luôn luôn bắt đầu từ cái đầu tiên – cho tất cả!

Thể thứ tư là nhìn lên trên và đó là điều quan trọng nhất, bởi vì từ thể thứ tư bạn trở thành siêu nhân. Cho tới thể thứ tư bạn vẫn còn là con người. Cho tới thể thứ nhất bạn là con vật. Chỉ từ thể thứ hai nhân loại mới trở thành con người, và nó đi đến nở hoa trọn vẹn trong thể thứ tư.

Nền văn minh của chúng ta, những đỉnh của nó, chưa bao giờ vượt ra ngoài thể thứ tư. Tuy nhiên, không có nền văn minh nào có thể vượt qua ngoài thể thứ tư. Đó là đỉnh của nhân loại. Bên ngoài thể thứ tư là bên ngoài con người. Đó là lý do tại sao chúng ta không thể phân loại một Ki tô như là một con người. Một vị Phật, một Mahavira, một Krishna: họ đã trở thành một cái gì đó bên ngoài một con người – người siêu nhiên.

Từ thể thứ tư, việc nhìn lên trên là một cú nhảy khỏi một địa hạt.

Khi tôi đang nhìn vào thân thể của tôi – thể thứ nhất từ bên ngoài – tôi chỉ là một con thú có một tiềm năng thành một con người. Đó là khác biệt duy nhất. Tôi có thể bị so sánh với một con thú: có mọi thứ giống nhau. Sự khác biệt duy nhất là thế này: đó là tôi có thể trở thành một con người và một con thú thì không thể. Nhưng đối với hoàn cảnh này, cả hai chúng tôi: đang trong địa hạt của loài thú, đang trong địa hạt của bên dưới loài người; chưa giống con người.

Từ thể thứ hai, thứ ba, thứ tư là sự nở hoa của con người. Cho nên thậm chí thể thứ tư trông giống như siêu nhân đối với chúng ta – nó vẫn chưa đâu.

Một Einstein, một Eddison, Rousseau, Voltaire – họ trông như siêu nhân. Họ không phải đâu. Họ chỉ là sự nở hoa trọn vẹn của một con người. Nhưng họ dưới người, nên trông họ như siêu nhân. Chúng ta dưới con người, còn họ trên chúng ta, nhưng chưa trên người. Chỉ có một Phật, một Ki tô, một Zarathustra – họ đã vượt qua biên giới của tâm trí.

Thể tinh thần được vượt qua từ việc nhìn lên trên.

Có những chuyện ngụ ngôn đáng để hiểu. Mohammed đang nhìn lên trên, lên trời, nói rằng một cái gì đó đã đến từ bên trên. Chúng ta đã xem điều này như về mặt địa lý, nên bầu trời trở thành chỗ trú ngụ của Thượng đế. Đối với chúng ta, “lên trên” nghĩa là trời; “xuống dưới” nghĩa là địa ngục, ở dưới đất. Nhưng chuyện ngụ ngôn này, cái biểu tượng này, đã không được hiểu đúng.

Mohammed đang nhìn lên không có nghĩa là nhìn lên trời; Mohammed đang nhìn lên là đang nhìn về agya chakra (luân xa thứ sáu – con mắt thứ ba). Đó là bầu trời cho tâm trí thứ tư. Đó là sự mở rộng lên trên bầu trời. Và khi Mohammed cảm thấy rằng một điều gì đó đã đến với ông ấy từ “trên,” thì cảm giác của ông ấy đúng. Nhưng lửa bốc lên có những ý nghĩa khác.

Một Zarathustra đang nhìn lên… mọi bức hình của ông ta đều đang nhìn lên. Mắt của ông ta chưa bao giờ hướng xuống. Hãy nhìn lên. Và khi lần đầu ông thấy điều thiêng liêng thì chỉ có những ánh lửa. Điều thiêng liêng đã đến với ông ấy như lửa. Đó là lý do tại sao người Ba tư là những người thờ lửa. Cảm giác về lửa bắt nguồn từ luân xa agya. Khi bạn nhìn lên trên, bạn sẽ cảm thấy một đốm lửa – mọi thứ đang bốc cháy. Do sự bốc cháy đó, do ngọn lửa đó, bạn được chuyển hóa. Phần thấp hơn người bị đốt, dừng hiện hữu, và phần cao hơn người được sinh ra. Đó là “băng qua lửa.”

Chỉ tới thể thứ năm mới có nhu cầu… từ thể thứ năm có một địa hạt mới, một chiều mới. Từ thể đầu tới thể thứ tư thì chiều là từ bên ngoài vào bên trong; từ thể thứ tư tới thể thứ năm thì nó là từ dưới lên trên; từ thể thứ năm, nó là từ ngã đến vô ngã. Bây giờ chiều đã khác. Không có vấn đề bên trong hay bên ngoài, hoặc bên trên hay bên dưới. Nó là vấn đề của “Tôi” và “Không Tôi.”

Nên vấn đề bây giờ liên quan đến trung tâm – liệu có trung tâm hay không. Tôi sử dụng từ này trong một sự chuyển tiếp khác, đối với người không có bất kì trung tâm nào.

Cho tới thể thứ năm, một người không có bất kì trung tâm nào – bị chia thành nhiều mãnh khác nhau. Chỉ có thể thứ năm mới có trung tâm; bây giờ hãy bắt đầu với trung tâm này. Chỉ có thể thứ năm mới có trung tâm, sự hợp nhất, cái một. Nhưng trung tâm này trở thành cái ngã; cái trung tâm này bây giờ là một rào cản cho sự tiến bộ xa hơn.

Nó đã có ích đến thể thứ năm – và ở mỗi bước, cái mà là một sự giúp đỡ sẽ trở thành rào cản cho sự tiến bộ xa hơn. Mỗi cây cầu, nếu bạn muốn vượt qua nó, bạn sẽ phải rời nó. Nó rất có ích cho việc vượt qua; nhưng nó sẽ trở thành một rào cản nếu bạn bám vào nó

Cho tới thể thứ năm, một trung tâm phải được tạo ra. Gurdjieff gọi trung tâm thứ năm này là “Sự kết tinh.” Đây là tinh thể. Một người trở thành một. Bây giờ không còn những đầy tớ; chủ đã nắm lại quyền. Bây giờ chủ chính là chủ – ông ta đã tỉnh thức; ông ta đã trở về nhà. Bây giờ không còn đầy tớ nào có thể nói “Tôi là chủ.” Khi chủ có mặt, tớ phải biến đi. Chúng đã trở nên yên lặng.

Thể thứ năm là sự kết tinh. Nhưng bây giờ để tiến xa hơn nữa, thì sự kết tinh này một lần nữa phải bị mất – mất trong một chiều khác, không mất trong sự hợp nhất này, mà mất vào cái không, vào vũ trụ. Và chỉ có người có, mới có thể mất được. Cho nên nói về vô ngã trước thể thứ năm là vô nghĩa. Nói về vô ngã trước thể thứ năm là ngu xuẩn. Bạn chưa có cái ngã, nên làm sao bạn mất nó được? Có rất nhiều cái bản ngã; mỗi đầy tớ có một cái bản ngã. Bạn là đa bản ngã, đa nhân cách, đa tâm. Có rất nhiều tâm trong bạn.

Nên khi bạn nghĩ đến việc làm mất cái ngã, bạn không bao giờ có thể làm mất nó được, bởi vì bạn chưa có nó. Việc đầu tiên cần làm để có thể làm mất nó là phải có nó. Một người giàu có thể từ bỏ gia sản của mình, nhưng một người nghèo thì không – anh ta chẳng có gì để từ bỏ, chẳng có gì để mất. Nhưng có nhiều người nghèo nghĩ đến việc từ bỏ. Người giàu sợ từ bỏ bởi vì anh ta có; người nghèo sẵn sàng từ bỏ bởi vì anh ta không có.

Thể thứ năm là cái giàu nhất. Thể thứ năm là đỉnh cao nhất của tất cả mọi tiềm năng trong một con người như là một hạt giống. Đây là đỉnh, thể thứ năm, đỉnh của cá nhân, đỉnh của tình yêu, đỉnh của từ bi, đỉnh của mọi thứ đáng giá. Nhưng bây giờ gai đã mất; bông hoa cũng phải biến mất. Khi ấy chỉ còn lại mùi hương, không hoa.

Thể thứ sáu là địa hạt của hương, hương của vũ trụ – không hoa, không trung tâm. Ở ngoài, nhưng không trung tâm – hay trung tâm ở mọi nơi, hay mọi thứ đã trở thành một trung tâm, hoặc bây giờ không có trung tâm. Có một cảm giác lan rộng. Nó không phải là một sự chia chẻ. Bây giờ không còn phân chia. Thậm chí sự phân chia của cá nhân – cái “Tôi” và cái “Không Tôi,” cái “Tôi” và cái “Khác” – không còn sự phân chia.

Vì thế một cá nhân có thể bị lạc mất theo hai cách: một là bị bệnh tâm thần phân liệt, bị chia chẻ thành quá nhiều người; và cách kia là vũ trụ, lạc mất vào trong cái tối thượng, mất vào trong cái tuyệt vời hơn, cái tuyệt vời nhất, brahman (thực tại tối cao), mất vào trong cái mở rộng. Bây giờ bông hoa không còn nhưng còn lại hương hoa.

Và bông hoa nữa cũng là một sự phiền toái. Khi chỉ có hương hoa thì nó hoàn hảo. Bây giờ không có nơi cho nó nên nó không thể chết. Nó không hấp hối. Có bắt đầu thì mọi thứ sẽ chết, có sanh thì phải có tử. Bây giờ bông hoa không còn, nên không còn điểm bắt đầu. Nó vô nhân, nên nó không có chết và cũng không có biên giới cho nó. Một bông hoa thì có biên giới nhưng hương hoa thì vô biên giới. Không có hàng rào cho nó. Nó sẽ vượt qua, vượt qua, vượt qua và vượt ra bên kia.

Do đó, từ thể thứ năm vấn đề không phải là về hướng lên, hay hướng xuống, một bên, bên trong, hay bên ngoài. Mà vấn đề có liên quan tới: có trung tâm hay không có trung tâm, có ngã hay không có ngã. Đó là thứ khó làm mất nhất. Để trở nên đồng tâm, để trở thành một trung tâm thì việc này không khó cho đến thể thứ năm, bởi vì cái ngã đã hoàn chỉnh.

Mỗi sadhak, mỗi người tìm kiếm, có thể đi tới thể thứ năm. Nó là cái ngã trọn vẹn. Không ai thích bị bệnh tâm thần phân liệt; mọi người thích là một nhân cách được kết tinh – sự huy hoàng của nó, sự giàu có của nó, niềm hạnh phúc của nó, chính bản thể của nó. Mọi người đều thích điều này.

Bây giờ một vấn đề to lớn hơn xuất hiện – và không thuộc về bất cứ phương pháp nào bởi vì từ thể thứ năm, không có phương pháp. Tại sao? Bởi vì mọi phương pháp buộc phải có cái ngã. Cái lúc bạn sử dụng một phương pháp, bạn được làm mạnh thêm. Nên những người nói về thể thứ năm và trên thể thứ năm, họ đều nói về không phương pháp; họ nói về tính không phương pháp; họ nói về vô kỹ thuật; họ nói về “không cách.” Bây giờ không có cách. Từ thể thứ năm, phương pháp đã biến mất.

Bạn có thể đi cùng phương pháp tới thể thứ năm; bây giờ phương pháp là vô dụng bởi vì người dùng đã mất. Nếu bạn sử dụng một cái gì đó, người sử dụng sẽ được làm mạnh thêm, tích cực, trở nên mạnh hơn, thậm chí trở nên đồng tâm hơn, trở nên rắn chắc hơn. Nó sẽ liên tục kết tinh, kết tinh và kết tinh; và sẽ trở thành một sự kết tinh nguyên tử.

Những người vẫn còn ở lại tại thể thứ năm sẽ nói rằng có rất nhiều linh hồn bất tử, nhiều loại tâm linh bất tử. Họ là những người nguyên tử – những người nguyên tử tâm linh, họ tin vào những nguyên tử. Hai nguyên tử không thể gặp nhau. Chúng không có cửa sổ để đi sang hàng xóm; chúng không cửa sổ, không cửa lớn, hoàn toàn được kết tinh, lạc mất trong chính chúng; đóng lại với bên ngoài, đóng lại với cái lên trên, đóng lại với mọi thứ khác.

Cái ngã thì không cửa sổ. Bạn có thể sử dụng một từ của Leibnitz, những đơn tử. Chúng trở thành những đơn tử: những nguyên tử không cửa sổ. Bây giờ không có hàng xóm. Bây giờ không còn người nào khác. Bạn một mình, một mình và một mình.

Bây giờ người ta phải làm mất nó. Làm cách nào để làm mất nó khi không có phương pháp? Làm sao để đi ra ngoài nó khi không có đường? Làm sao trốn thoát khỏi nó khi không có cửa sổ? Các thiền sư đã gọi nó là vô môn quan (cửa không lối). Bây giờ không có cửa, vậy mà người ta phải đi ra ngoài nó.

Vậy phải làm sao? Đừng đồng hóa với sự kết tinh này. Hãy nhận biết về nó. Chỉ cần nhận biết nó. Chỉ cần nhận biết về vòng tròn nguyên tử này, cái lớp ngã này, ngôi nhà của cái “Tôi” này đã bị đóng lại – chỉ cần nhận biết về nó. Hãy nhận biết về nó và đừng làm bất cứ gì khác – và sẽ có một vụ nổ; bạn sẽ ở bên ngoài.

Có một ngụ ngôn thiền…

Một quả trứng ngỗng được đặt vào trong một cái chai, sau đó nó nở thành con và bắt đầu lớn lên. Cái miệng chai thì quá nhỏ đến độ con ngỗng đó không thể đi ra ngoài được. Bây giờ nó đang lớn dần, lớn dần, và lớn dần, còn cái chai thì trở nên quá nhỏ tới nỗi hoặc cái chai phải bị đập vỡ để cứu con ngỗng hoặc con ngỗng sẽ chết và cái chai được nguyên vẹn. Và họ hỏi những người tìm kiếm: “Phải làm gì đây?” Chúng ta không muốn mất cả hai. Cả con ngỗng lẫn cái chai phải được cứu. Phải làm sao?”

Đây là vấn đề của thể thứ năm, khi không có đường ra và con ngỗng đang lớn, và sự kết tinh đã trở nên đông đặc. Phải làm gì đây?

Họ yêu cầu các thiền sinh thiền về nó. Người tìm kiếm đi vào trong phòng, đóng cửa lại và bây giờ anh ta bắt đầu nghiền ngẫm về nó: làm sao đây?

Chỉ có hai cách: anh ta sẽ phải đập vỡ cái chai để cứu con ngỗng, hay để cho con ngỗng chết để bảo vệ cái chai. Không có cách nào khác, nên tâm trí cứ liên tục sẵn sàng, sẵn sàng và sẵn sàng. Người tìm kiếm liên tục suy nghĩ và suy nghĩ, rồi đi đến bậc thầy và đề nghị một cách gì đó và nó sẽ không được chấp nhận bởi vì không có cách nào cho chuyện này. Bậc thầy sẽ tống anh ta ra hết lần này đến lần khác.

Ngày này qua đêm nọ, người tìm kiếm, thiền sinh này luôn nghĩ về nó, và nghĩ về nó, nhưng chẳng có chuyển biến gì. Một khoảnh khắc đến khi suy nghĩ dừng lại. Rồi anh ta chạy đến và nói, “Con ngỗng ở ngoài! Con ngỗng ở ngoài! Tìm ra rồi! Nó đã được tìm thấy.” Bây giờ bậc thầy không bao giờ hỏi “cách làm” nữa bởi vì điều đó giờ đây là vô nghĩa; con ngỗng đã ở ngoài.

Từ thể thứ năm, vấn đề là một công án; nó là một câu đố. Người ta nên tỉnh thức, nhận biết về sự kết tinh này – và con ngỗng đã ở ngoài. Một khoảnh khắc sẽ tới khi bạn biết bạn ở ngoài; không có cái “Tôi.” Sự kết tinh đã bị mất – đạt được và đã bị mất. Sự kết tinh này là cần thiết như một thông lộ, như một cây cầu, như một đường dẫn. Và Vượt qua sự kết tinh của thể thứ năm là một điều cần thiết; nếu không, bạn không thể vượt qua thể thứ năm. Đối với thể thứ năm, sự kết tinh, cái trung tâm, cái ngã, là cần thiết.

Có nhiều người đã đạt được thể thứ năm mà không đi qua thể thứ tư. Một người có nhiều tài sản thì có thể đạt được thể thứ năm; ông ta được kết tinh bằng một cách nào đó. Một người đã trở thành tổng thống của một nước, ông ta được kết tinh theo một cách nào đó.

Một Hitler, một Mussolini – họ được kết tinh theo một cách nào đó, mà sự kết tinh này ở trong thể thứ năm và từ thể thứ năm. Bốn thể đầu không hợp với nó, nên sự kết tinh này trở thành bệnh hoạn. Nó trở thành một loại bệnh. Mahavira và Phật cũng đã được kết tinh theo một cách nào đó, nhưng từ một lộ trình khác.

Tất cả chúng ta khát khao cái ngã và hoàn thành nó, bởi vì cái bản thể cần đạt đến thể thứ năm. Nhưng nếu bạn chọn đường tắt, thế thì bạn sẽ bị lạc. Đường tắt là qua sự giàu có, qua quyền lực, qua chính trị.

Cái ngã có thể được thành tựu, nhưng đó là sự kết tinh sai – sự kết tinh không phù hợp với toàn bộ nhân cách của bạn. Đó là sự kết tinh giống như một cục chai ở trong chân bạn! một cái gì cứng như đá trở nên được kết tinh trong chân của bạn và khi bạn bước đi thì nó làm bạn thốn – một sự kết tinh của một cục chai.

Nếu con ngỗng đã ở ngoài trong thể thứ năm, thì bạn ở trong thể thứ sáu. Từ thể thứ năm đến thể thứ sáu là địa hạt của huyền bí. Tới thể thứ năm, khoa học có thể giúp đỡ; cho tới thể thứ năm, những phương pháp khoa học có thể được sử dụng. Hoặc một môn khoa học về những phương pháp có thể được thực hiện. Yoga có ích cho tới thể thứ năm. Từ thể thứ năm yoga là vô nghĩa, bởi vì yoga là phương pháp, kỹ thuật, khoa học.

Từ thể thứ năm, thiền zen sẽ giúp đỡ được nhiều. Thiền zen rất có ích từ thể thứ năm.

Và trước đấy thì sao?

Và trước đấy thì yoga có ích. Trước đấy thiền zen không giúp được nhiều. Nó là phương pháp của từ thể thứ năm sang thể thứ sáu. Thiền zen… nên thiền zen là một bông hoa. Những gốc rễ rất khác nhau.

Thiền zen đã nở hoa ở Nhật nhưng nó đã được gieo hạt ở Ấn độ. Gốc rễ của nó là từ yoga; nó đã nở hoa thành thiền zen.

Thiền zen là từ thể thứ năm đến thể thứ sáu. Đó là lý do ở phương Tây, Thiền zen đã rất hấp dẫn. Tại sao? Bởi vì cái ngã phương Tây đã được kết tinh theo một nghĩa nào đó. Nó đã đạt tới một cái ngã nào đó từ những nguồn sai, chứ không đi qua bốn thể đầu tiên, nên nó được kết tinh qua một tiến trình sai.

Người phương Tây là những bậc thầy của thế giới; họ là những người chủ. Họ là những người giàu có nhất. Họ có khoa học, kỹ thuật, họ có mọi thứ. Họ có hỏa tiễn; họ có thể lên cung trăng. Nên họ đã kết tinh.

Thiền zen đã trở nên hấp dẫn đối với họ nhưng nó sẽ không ích gì. Nó không thể giúp ích bởi vì sự kết tinh này là sai. Cho nên Gurdjieff có ích rất nhiều cho phương Tây bởi vì ông ta đi từ thể thứ nhất đến thể thứ năm. Ông ấy không giúp ích bên ngoài thể thứ năm. Cho tới thể thứ năm, sự kết tinh… bạn có thể đạt được sự kết tinh với ông ấy.

Thiền zen sẽ chứng tỏ chỉ là một mốt bởi vì nó không có gốc rễ ở phương Tây. Nó đã là một quá trình dài ở phương Đông, một quá trình rất dài – bắt đầu từ hatha yoga và lên tới cực điểm vào thời Phật. Hàng ngàn hàng ngàn năm khiêm hạ: không bản ngã, bị động, không hành động tích cực, tiếp nhận, không gây hấn.

Tốt hơn là nên nói nó là một truyền thống dài thuộc tâm trí nữ tính, một cái tâm tiếp nhận. Phương Đông đã là nữ tính. Phương Tây là nam tính: gây hấn, tích cực. Phương Đông đã là một cơ quan cảm nhận, một khả năng tiếp nhận. Nên Thiền zen có thể giúp ích ở đây bởi vì bốn quy trình trước đang hoạt động ngầm – Thiền zen có thể nở hoa.

Bây giờ thậm chí ở Nhật ngày nay, thiền zen cũng đã trở nên vô nghĩa, bởi vì Nhật là quốc gia duy nhất ở phương Đông mà ngày nay không thuộc phương Đông. Nó đã trở thành phương Tây. Nhật đã từng là một trong những đất nước khiêm hạ nhất, nhưng ngày nay tính khiêm hạ chỉ là bề ngoài.

Bây giờ tính khiêm tốn không còn là cái bản chất nội tại; nó chỉ là một cuộc trình diễn bởi vì người ta trả tiền cho khiêm tốn. Nó kế tục tính khiêm tốn. Nó đạt tính khiêm tốn cho cái ngã được khiêm tốn. Nên thiền zen ở Nhật đã bị bứng gốc và đi tìm gốc ở phương Tây bởi vì… với sự giúp đỡ của cái ngã sai, sự kết tinh sai.

Từ thể thứ năm đến thể thứ sáu, Thiền zen rất có ích, nhưng không từ thể thứ tư hay trước đó.

Nhưng nó có tuyệt đối vô ích cho sự khởi đầu?

Tuyệt đối vô ích, đúng hơn là có hại. Bởi vì nói về lớp bốn cho lớp một, nói về đại học trong trường tiểu học thì không chỉ vô ích mà còn có hại. Chỉ từ thể thứ năm tới thể thứ sáu thì thiền zen mới có thể giúp ích nào đó. Nếu không, nó chỉ sẽ tạo nên satori (ngộ), chứ không samadhi (định).

Thiền zen sẽ tạo nên satori, samadhi giả, những cơn mơ về samadhi, và chỉ được sử dụng trong thể thứ tư, thể tinh thần. Thiền zen sẽ tỏ ra có một khả năng thưởng thức cái đẹp, một cảm giác về mạnh khỏe, nhưng nó không giúp ích cho sự kết tinh.

Chỉ bên ngoài sự kết tinh thiền zen mới có ích. Công án Thiền, con ngỗng đi ra ngoài mà không dùng “cách” chỉ có thể được thực hiện sau khi đã làm nhiều “cách” – sau khi đã thực hành quá nhiều phương pháp. Một họa sĩ có thể vẽ với mắt nhắm; một họa sĩ có thể vẽ như đang chơi trò. Một diễn viên có thể diễn như thể anh ta không diễn chút nào, và việc diễn xuất sẽ trở nên hoàn hảo khi nó không trông giống như đang diễn.

Nhưng đằng sau nó là cả một sự lao động khổ cực, nhiều năm lao động, nhiều năm luyện tập. Giờ đây người diễn viên đã trở nên hoàn toàn thoải mái, nhưng cái “thoải mái” đó không phải được đạt được chỉ trong một ngày. Nó có những phương pháp riêng và những quy trình riêng của nó.

Chúng ta có thể đi bộ và chúng ta không bao giờ biết cách chúng ta đi. Nếu ai đó hỏi bạn đi bằng cách nào, bạn nói, “Tôi chỉ đi. Không có ‘cách’ nào cho nó.” Nhưng “cách” đã có đó khi một đứa trẻ bắt đầu bước đi: nó học. Nhưng nếu người lớn nói với đứa trẻ rằng bước đi không cần phương pháp – “Con chỉ cần bước!” – thế thì điều này sẽ trở nên vô nghĩa đối với đứa trẻ.

Nó không thể hiểu được điều này.

Krishnamurti đã và đang nói theo cách này, nói bằng một tâm trí người lớn cho trẻ con, nói rằng “Bạn có thể bước đi. Bạn có thể chỉ cần bước! Con ngỗng ở bên ngoài. Hãy bước đi.” Và họ đang lắng nghe, và họ say mê, họ lấy làm vui thích, bởi vì nó trông dễ hơn – nó trông có vẻ như là cách dễ nhất để bước đi mà không dùng phương pháp. Thế thì ai cũng có thể bước.

Bởi vì lý do này mà Krishnamurti cũng đã trở nên hấp dẫn ở phương Tây; bởi vì nếu phương Tây trông cậy vào hatha, bhakti, mantra, tantra, raja yoga, thì lâu quá, cực quá, khó quá – hằng thế kỷ lao động, hằng đời kiếp. Họ không thể thực hành theo những cách này được. Họ cần một phương pháp nhanh chóng, một ngõ tắt; một phương pháp nào đó cho kết quả ngay tức thì.

Nên Krishnamurti làm họ hài lòng, hấp dẫn họ. Ông ta nói, “Hãy bước. Bước đến Thượng đế. Không có phương pháp.” Khi không có phương pháp thì chúng ta nghĩ rằng bây giờ không khó nhưng không phương pháp là thứ khó đạt nhất.

Để diễn như thể không đang diễn, nói như thể không đang nói, đi như thể không đang đi, không cần nỗ lực gì, thì cần phải có căn bản, phải trải qua quá trình phấn đấu không ngừng, lao động dài lâu.

Nhưng lao động, nỗ lực có một giới hạn – chỉ tới thể thứ năm. Từ thể thứ năm, nó trở nên vô nghĩa. Nếu bạn còn tiếp tục lao động, nếu bạn còn tiếp tục học, nếu bạn còn tiếp tục thực hành từ thể thứ năm sang thể thứ sáu, bạn sẽ không đi đâu cả. Con ngỗng sẽ ở trong; nó sẽ không bao giờ ra ngoài.

Đây là khó khăn cho những nhà yoga xứ này. Họ dính vào thể thứ năm. Họ thấy khó vượt qua nó bởi vì họ bị phương pháp bỏ bùa mê, bị phương pháp thôi miên. Họ luôn luôn làm việc với phương pháp. Họ đã có một môn khoa học rõ ràng, đã có một bí quyết rõ ràng cho tới thể thứ năm.

Họ đã đạt được nó rất dễ dàng. Có nỗ lực – và họ đã có thể làm nó! Có bao nhiêu là sự mãnh liệt được cần đến – nó không là vấn đề với họ. Họ có thể cung cấp nó. Bây giờ trong thể thứ năm, họ phải vượt qua khỏi địa hạt của phương pháp để đến vô phương pháp. Bây giờ họ đang lúng túng nên họ ngồi xuống. Và thể thứ năm này đã trở thành điểm kết thúc đối với nhiều người tìm kiếm.

Đó là lý do có bài nói về năm thể, chứ không về bảy thể. Năm ngôi, năm thể, chứ không nói về bảy, bởi vì những người đã đạt được thể thứ năm nghĩ rằng đây là đích. Nó chưa phải đích đâu. Nó vẫn chỉ là một sự khởi đầu mới. Bây giờ một lần nữa, một sự khởi đầu mới: từ cá nhân tới vô cá nhân. Thiền zen hoặc những phương pháp như thiền zen có thể giúp ích – không phương pháp – Nỗ lực vô nỗ lực.

Zazen (ngồi thiền) nghĩa là chỉ ngồi và không làm gì cả. Một người đã làm nhiều không thể tưởng điều này, chỉ ngồi, không làm gì cả. Điều này là không thể tưởng đối với anh ta. Một Gandhi không thể tưởng tượng được nó. Ông ta đã làm quá nhiều. Chỉ ngồi ông ta sẽ nói, “Thế thì tôi sẽ se chỉ cho guồng quay tơ. Một cái gì đó phải được làm. Đây là lời nguyện của tôi, đây là thiền của tôi.”

Không làm gì nghĩa là không có gì. Nhưng không làm gì có lãnh địa riêng của nó, có phúc lạc riêng của nó, có tồn tại riêng của nó, nhưng đó là từ thể thứ năm qua thể thứ sáu. Người ta không thể hiểu được nó trước đó.

Và từ thể thứ sáu sang thể thứ bảy, thậm chí sẽ không có không phương pháp. Phương pháp bị mất trong thể thứ năm, và trong thể thứ sáu thậm chí không phương pháp cũng bị mất. Một ngày nọ bạn thấy mình trong thể thứ bảy. Ngay cả vũ trụ cũng đã biến mất; chỉ có cái không là còn lại. Nó xảy ra. Nó là việc xảy ra từ thể thứ sáu sang thể thứ bảy; đây là một việc xảy ra.

Ông ta có chọn không…?

Bạn có thể nói điều đó, bạn có thể nói như vậy, nhưng nếu bạn nói như vậy, thế thì một lần nữa nó trở nên thuộc về thể thứ sáu. Không có bất cứ người chọn lẫn sự chọn nào ở đây. Nó chỉ xảy ra – không nguyên nhân, không biết. Chỉ khi nó không có nguyên nhân, nó mới trở nên ngắt kết nối được với cái thể trước.

Nếu nó có nguyên nhân thì có một sự tiếp tục, khi đó cái tồn tại không thể biến mất. Trong thể thứ bảy cho dù bạn đã làm một cái gì đó hay không làm một cái gì đó trong thể thứ sáu, thì vẫn có một sự liên tục – sự liên tục vẫn còn. Nhưng thể thứ bảy là cái hoàn toàn trống rỗng, cái không hiện hữu tuyệt đối, niết bàn, sự trống rỗng, cái không tồn tại.

Cho nên không có tính liên tục. Không có khả năng cho bất cứ sự liên tục nào từ tồn tại tới không tồn tại – đây chỉ là một cú nhảy và không nguyên nhân. Nếu nó có nguyên nhân thì cái nguyên nhân đó phải nằm với thể thứ sáu và rồi có một sự liên tục. Cho nên người ta không thể nói về nó – từ thể thứ sáu tới thể thứ bảy.

Từ thể thứ sáu tới thể thứ bảy bạn có thể có nó nhưng không thể nói về nó. Nó là sự gián đoạn, nó là một khoảng hở. Có một cái gì đó đã là và một cái gì đó đang là – và không có sự kết nối giữa hai cái này.

Một cái gì đó vừa dừng lại, và một cái gì đó vừa bước vào. Không có mối quan hệ giữa hai cái này. Một người khách đã đi ra từ cửa này, mặt ngoài, và một người khách khác đã bước vào từ mặt kia của cửa. Hai người khách này không có liên hệ với nhau: không liên quan. Không có mối nối giữa việc đi ra của người này và việc đi vào của người kia. Có một khoảng trống: không liên quan.

Thể thứ bảy là cái tối thượng bởi vì bây giờ thậm chí bạn đã vượt qua thế giới của nguyên nhân – mối quan hệ nhân và quả. Bây giờ bạn đã đến được nguồn, cái khởi thủy – cái mà có trước sự sáng tạo và cái mà sẽ còn lại sau sự hủy diệt, và cái đó thì luôn luôn ở phía sau; cái đó thì bao giờ cũng đứng đó chờ đợi, chờ đợi và chờ đợi. Cho nên từ thể thứ sáu qua thể thứ bảy thậm chí không có không phương pháp. Chúng không có ích ở đây. Ở đây không có gì là có ích và mọi thứ có thể là một rào cản. Từ vũ trụ vào cái không có một sự xảy ra: xảy ra không nguyên nhân, không chuẩn bị, không biết, không đòi hỏi.

Việc này xảy ra một cách tự phát. Chỉ có một việc cần nhớ một cách thụ động là: bạn không được bám vào thể thứ sáu. Việc bám vào này sẽ là tiêu cực. Không được chủ động để đi tới thể thứ bảy nhưng có thể có một chướng ngại tiêu cực: bạn có thể bám vào thể thứ sáu. Bạn có thể bám vào Brahman, vũ trụ, và có thể nói, “Tôi đã đạt được!” Nên những người đã nói, “Tôi đã đạt được,” thì họ không thể nào đi tới thể thứ bảy được.

Những người nói, “Tôi đã biết,” vẫn còn trong thể thứ sáu. Cho nên kinh Vệ đà vẫn còn trong thể thứ sáu. Chỉ có Phật vượt qua thể thứ sáu bởi vì ngài nói, “Tôi không biết.” Đối với những câu hỏi tối thượng, ngài từ chối trả lời. Ngài nói, “Ta không biết.” Ngài nói, “Không ai biết.” Ngài nói, “Chưa ai từng biết.” Nhưng không ai hiểu ngài.

Những người nghe ngài… họ nói, “Không, thầy của chúng tôi đã biết. Họ nói có Brahman.” Nhưng Phật đang nói về thể thứ bảy. Không bậc thầy nào có thể nói ông ta đã biết về thể thứ bảy – không ai có thể nói, bởi vì khoảnh khắc bạn nói nó bạn đã mất tiếp xúc với nó. Và một khi bạn đã biết nó, bạn không thể nói nó.

Cho tới thể thứ sáu, những biểu tượng có thể được diễn đạt, nhưng không có biểu tượng cho thể thứ bảy. Nó chỉ là một sự trống rỗng.

Có một ngôi chùa ở Trung hoa chỉ trống rỗng. Không có gì trong nó; không có bất cứ hình ảnh nào, hoặc kinh điển nào – không có bất cứ thứ gì. Nó chỉ trơ trọi, những bức tường trống trơn. Và nếu bạn đến đó và hỏi vị thầy ở đó – người không thể trú ngụ bên trong ngôi chùa, mà trú ngụ bên ngoài ngôi chùa; tu sĩ thì luôn có thể ở bên ngoài ngôi chùa này, ông ta không thể ở bên trong – nếu bạn hỏi ông ta, “Vị thần của ngôi chùa này ở đâu?” ông ta nói, “Nhìn kìa!” – và đó là sự trống rỗng. Ông ta sẽ nói, “Hãy nhìn! Ông ấy ở đây,” và không có ai cả, không có một hình ảnh hoặc bất cứ kinh điển nào: rỗng không, trơ trụi, một ngôi chùa trống rỗng. “Ở đây! Bây giờ!”

Và bạn nhìn quanh, bởi vì chúng ta đang tìm một vật.

Nếu bạn tìm kiếm một vật thì bạn không thể vượt từ thể thứ sáu qua thể thứ bảy. Cho nên cần có những sự chuẩn bị thụ động. Cho tới thể thứ năm, thì cần có những sự chuẩn bị chủ động; từ thể thứ sáu, thì cần có những sự chuẩn bị thụ động.

Tâm trí thụ động là cần đến, tâm trí thụ động là cái tâm không mong ước điều gì – thậm chí không moksha (giải thoát), thậm chí không niết bàn; cái tâm không ao ước bất cứ gì, cái tâm không tìm kiếm bất cứ gì, ngay cả không chân lý; cái tâm không chờ đợi điều gì – thậm chí không thần thánh, không Brahman. Ông ta chỉ là, không có bất kì khát khao nào, ham muốn nào, ước muốn nào, ý thích bất chợt nào. Chỉ đang là. Cái lúc mà nó xảy ra thì ông ta mới thấy rằng thậm chí vũ trụ đã biến mất.

Bạn có thể đi vào thể thứ bảy, dần dần. Hãy bắt đầu từ thể vật lý và làm việc qua thể ê te, sau đó tới thể vía, rồi đến thể tinh thần. Bạn có thể làm việc tới thể thứ năm, và từ thể thứ năm bạn phải tỉnh thức. Việc làm không còn quan trọng ở đây nữa; lúc này tâm thức là quan trọng. Từ thể thứ sáu qua thể thứ bảy ngay cả tâm thức cũng không quan trọng. Chỉ có đang là, cái hiện hữu.

Đây là tiềm năng của những hạt giống của chúng ta. Đây là tiềm năng của chúng.

-Vương Hằng-

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *