Tu học là phát triển Tâm thức. Không có khái niệm Tu Thân. Khái niệm Tu Thân là khái niệm Phi Tôn giáo, là khái niệm của một số Giáo phái mới, không có tính Tôn giáo.

Con người có ba trạng thái: Sinh lý, Tâm Lý và Tâm Linh. Ba trạng thái này có bốn cấp độ, từ thấp tới cao, từ ngoài vào trong. Đó là:

    (i) Sướng là bậc thấp nhất, đó là Sinh lý, đó là Thú vật. Tranh dành Quyền lực, Danh vọng, Tiền bạc và Tính dục là để phục vụ cái sướng. Sướng đến từ bên ngoài. Không có từ bên ngoài tác động vào con người không thể sướng được. Sướng đến, rồi đi.  Sướng là bậc thấm nhất.

    (ii) Cao hơn sướng là Hạnh Phúc. Hạnh Phúc mang tính Tâm lý. Nó gắn liền với Tình Yêu. Sướng đơn giản là Tính dục. Sướng là nhận. Hạnh Phúc là cho và nhận. Hạnh Phúc mang tính Người. Nhưng Hạnh Phúc có một phần đến từ bên ngoài. Hạnh Phúc ngắn ngủi như sướng, đến rồi đi, không trường tồn.

    (iii) Cao hơn Hạnh Phúc là Hoàn Hỷ. Hoan Hỷ có tính Tâm Linh. Khi Tình Yêu tràn đầy, một cách Tự nhiên, con người đem cho. Đơn giản: có thì cho, không mong nhận. Hạnh Phúc là cho và nhận; cho và muốn cho rất nhiều, nhưng trong sâu thẳm cho, vẫn mong nhận. Hoan Hỷ không biết nhận, đơn giản là cho, khi được cám ơn, thấy ngạc nhiên vì điều đó. Hạnh Phúc gắn với Tình Yêu, Hoàn Hỷ gắn với Từ Bi. Tình Mẹ với con là Từ Bi. Mẹ cho con, con cám ơn mẹ, mẹ thấy không cần thiết, vì cho con trong lòng mẹ đã thấy đủ: nỗi Sung Sướng, niềm Hạnh Phúc, sự Hoàn Hỷ rồi.

     (iv) Cao hơn Hoàn Hỷ là Phúc Lạc. Phúc Lạc là Trường tồn, là cái của Toàn bộ. 

Tu học là Phát triển Tâm thức là để tiến tới sự tiến hoá từ Sinh lý tới Tâm lý, tới Tâm linh; là để tiến tới sự tiến hoá từ ngoài vào trong; là để tiến hoá từ Bản Ngã tới Vô Ngã; là để bước qua Sướng, tới Hạnh Phúc, tới Hoan Hỷ và tối thượng là tới cái Toàn thể và Vĩnh Cửu: Phúc lạc.

Tâm thức bao gồm ba phần: Trí tuệ, Tâm trí và Tiềm thức (Bản năng, Trực giác)

Có thể diễn đạt tính thơ ca của Tâm thức và Tâm trí như Đại dương và sóng. Đại dương thì bao la; sóng đã ngàn năm, đã triệu năm, khi hiền hoà, khi giận dữ cuồn cuộn trên mặt Đại dương. Sóng luôn gây hỗn độn cho Đại dương, như Tâm trí luôn gây rối loạn cho Tâm thức.

Nhưng sóng không phải từ trong lòng của Đại dương, nó đến từ bên ngoài, nó đến từ gió, nó đến từ bão, nó đến từ chênh lệch áp suất của tầng khi quyển. Nó chỉ có thể xáo động mặt biển, chỉ bề mặt mà thôi. Ngay cả khi nó giận dữ nhất, nó cuồng nộ nhất nó cũng chỉ tạo nên xáo động bề mặt, chỉ bề mặt mà thôi. Các nhà khai thác dầu khí, họ xây dựng các công trình trên biển với cả một kinh phí khổng lồ, hàng tỷ hàng chục tỷ USD, họ phải rất cẩn thận với sóng biển. Họ đã tính toán với những cơn sóng với tần xuất rất thấp, hàng trăm năm mới xảy ra một lần, đó là những cơn sóng lớn nhất.

Những cơn sóng tính toán đó, chiều cao sóng tính toán đó chỉ lên tới trăm mét. Trăm mét hỗn độn, trăm mét rối loạn, đó chỉ là bề mặt của Đại dương bao la sâu hàng chục ngàn mét. Nhưng có những con sóng thần, những con sóng bạo tàn. Nó cũng đến từ bên ngoài, không phải trong lòng Đại dương, nó đến từ sự nứt gẫy và trồi trụt của những lát cắt địa tầng dưới đáy Đại dương.

Nó tích luỹ một năng lượng khổng lồ, bằng hàng chục hằng trăm lần năng lượng của quả bom Nguyên tử do người Mỹ thả xuống Nhật ở cuối Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự trồi trụt của mặt đất dưới đáy biển, hãy tưởng tượng một dãy núi dịch chuyển, dịch chuyển cực kỳ nhanh. Sự dịch chuyển này kéo theo một lượng nước kèm rất lớn chuyển động theo. Các nhà Hàng hải, khi sản xuất những con tàu, họ vô cùng quan tâm tới dao động của thân tàu trên sóng.

Qua tính toán, thực nghiệm trong Bể thử mô hình và thực nghiệm trên mô hình 1/1, họ nhận ra được một kết luận lớn lao, quán tính chuyển động của tàu chỉ là một phần thôi, một phần lớn khác là ở lượng nước kèm cùng chuyển động theo; nó đã tích luỹ một năng lượng rất lớn, lớn hơn nhiều năng lượng của con tàu. Và sóng thần cũng vậy, năng lượng chuyển động của dãy núi đã được cộng thêm năng lượng nhiều lần lớn hơn của lượng nước kèm.

Một năng lượng khổng lồ. Nó đã gây ra khủng khoảng ở Thailand năm 2004, nó đã gây ra khủng khoảng ở Nhật bản năm 2011,… Nhưng ngay sau đó, không dài lâu, Đại dương lại trở lại êm đềm như chưa có gì xảy ra. Rồi ngay cả khi có sóng thần, thì cũng không phải toàn Đại dương nổi sóng, chỉ một phần, một khu vực nhỏ so với Đại dương bao la mà thôi. Và sóng vẫn cứ là bên ngoài, bề mặt trên hoặc bề mặt dưới. Tâm trí luôn làm rối loạn Tâm thức, nhưng chỉ là rối loạn bề mặt.

Khi Đại dương là Tâm thức, sóng là Tâm trí, thì Trí tuệ là nước của những dòng sông. Triệu năm nay, trong dòng Mê kong nước từ Tây Tạng, qua Trung Quốc, qua Thailand,… tới Việt Nam rồi đổ ra biển. Sông Hằng, sông Amazon, sông Nil, sông Mississipi-Missouri,… ngàn năm nay, triệu năm nay vẫn đưa nước chảy ra biển. Tất cả các dòng sông đều chảy ra biển.

Tất cả các dòng sông đều mang nước cho biển cả. Như Trí tuệ góp Tri thức và Kinh nghiệm cho Tâm thức. Các dòng sông Trí tuệ chở Tri thức và Kinh nghiệm cho Đại dương Tâm thức. Các dòng sông luôn chảy, khi hiền hoà, khi cuộn sóng, luôn luôn miệt mài, luôn luôn tích góp. Sông cứ tưởng không có sông, Đại dương khô cạn. Sông luôn tưởng vậy. Nhưng Đại dương bao la lắm, nước của các dòng sông chiếm được bao nhiêu phần nước đang có trong Đại dương. Cũng như vậy, hãy đừng nghĩ rằng Trí tuệ là phần quan trọng của Tâm thức, nó chỉ là một phần nhỏ mà thôi.

Sóng thì bề mặt, mà nhìn vào Đại dương luôn thấy sóng; còn các dòng sông thì cứ tưởng không có sông nước Đại dương sẽ cạn. Tâm trí và Trí tuệ là như vậy với Tâm thức. Đâu có biết rằng trong lòng Đại dương luôn có những dòng Hải lưu. Những dòng Hải lưu chảy từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây, từ dưới Đông Nam lên Tây Bắc; chảy thông qua các Đai dương, chảy từ Ân độ dương tới Thái bình dương, chảy từ Thái bình dương tới Đại Tây dương…

Ngàn năm nay, triệu năm nay những dòng Hải lưu luôn chảy. Bề mặt Đại dương không thấy gì, khi không có sóng Đại dương luôn êm đềm, hiếm ai biết được trong lòng Đại dương có những dòng Hải lưu. Không có những dòng Hải lưu Đại dương là Đại dương chết. Những dòng Hải lưu là cuộc sống của Đại dương. Những dòng Hải lưu với Đại dương là Tiềm thức, là Bản năng, là Trực giác với Tâm thức.

Trí tuệ, Tâm trí, Tiềm thức (Bản năng và Trực giác) và Tâm thức nó là như vậy. Nó không thể khác được, xin đừng hiểu nó khác đi. Nó phải là như vậy.

Cũng có thể dùng ngôn ngữ Toán học có thể diễn đạt những điều này. Nếu coi Tâm thức là một hàm số, có ba biến số, biến số thứ nhất là Trí tuệ, biến số thứ hai là Tâm trí và biến số thứ ba là Tiềm thức. Hàm Tâm thức đạt cực đại khi và chỉ khi hai biến số Trí tuệ và Tiềm thức đạt cực đại cùng đồng thời với với biến số Tâm trí đạt cực tiểu. Nó là hàm ba biến.

Có thể bằng những phương trình, những phép toán vi phân, những phép toán tích phân, những phổ, những phép rời rại… để mô tả điều này được không? Phật giáo biết, Toán học hiểu? Nhưng nếu mô tả được, thì hãy mô tả hàm Tâm thức với biến số Trí tuệ chỉ cần là hàm đa thức đơn giản mà thôi; chỉ cần đạo hàm một vài lớp là nó có thể trở thành tuyến tính hoặc bằng không.

Nhưng với biến số Tâm trí và Tiềm thức thì khác đấy, hàm Tâm thức lúc này phải là dạng phổ hoặc là những hàm số phức tạp, nó không thể tuyến tính sau vàu ba lần đạo hàm đâu, nó phải có những điểm kỳ dị, nó phải có những bước nhảy, nó phải có những điểm gãy,… Và có thể biến số này còn có thể là hàm số của biến số kia. Quan hệ Toán học này phải là quan hệ phức tạp, không thể đơn giản được. Nhưng lời giải của nó sẽ là đầy bất ngờ. Cực trị của Tâm thức đầy bất ngờ. Nó có thể đạt cực trị tại những điểm, những toạ độ đơn giản nhất…

Phát triển Tâm thức là cùng lúc phát triển Trí tuệ, là cùng lúc khơi mở Tiềm thức, là cùng lúc buông bỏ Tâm trí. Phật Gautama đã có sự từ bỏ vĩ đại, trước khi ngài Chứng ngộ. Sự từ bỏ vĩ đại của ngài, không phải là sự từ bỏ Ngai vàng, Vương quốc, quyền lực, giàu sang, sung sướng,…

Đó chưa phải sự từ bỏ vĩ đại mà tôi nói đến. Sau khi từ bỏ mọi thứ và Ngài đã mất Sáu năm trời đi nhiều nơi, tu tập, trao đổi và tranh luận. Thậm trí trong sáu năm đó, Ngài cũng đã từng hành xác. Sáu năm đó, Trí tuệ của Ngài chắc rằng đã phát triển và thay đổi mạnh mẽ. Nhưng điều đó đã không thể đưa Ngài đạt tới Chứng ngộ. Ngài đã Chứng ngộ chỉ sau khi Từ bỏ tìm kiếm.
Đó chính là sự từ bỏ Vĩ đại. Ngồi nhiều ngày ngồi dưới gốc cây Bồ đề, Ngài đã Chứng ngộ khi đã bỏ rơi Tâm trí hoàn toàn và Tiềm thức đã khơi mở hoàn toàn. Đó là con đường Chứng ngộ của Phật Gautama, con đường Chứng kiến.

Tu Học, Phát triển Tâm thức là như vậy; là cùng lúc phát triển Trí tuệ, là cùng lúc khơi mở Tiềm thức, là cùng lúc buông bỏ Tâm trí. Phải đồng thời cả ba hướng. Chỉ phát triển một cái trong ba hướng đó là không được, không thể được.

Thiền là con dường duy nhất để buông bỏ Tâm trí.
Thiền là con đường duy nhất để khơi mở Tiềm thức. Muốn buông bỏ Tâm trí, muốn khơi mở Tiềm thức chỉ có thể thực hiện thông qua Thiền. 

Cũng thông qua Thiền quán Trí tuệ sẽ có phát triển bước nhảy. Theo cách trần thế thông thường Trí tuệ gia tăng tuần tự và logic. Theo cách trần thế thông thường Trí tuệ giúp cho Con người HIỂU được những tri thức trong cuộc sống. Thông qua Thiền (Thiền Chỉ và Thiền Quán) Con người sẽ BIẾT được những Kinh nghiệm của Thực tại. Khi này nó không phải là tuần tự, không phải là logic, nó là Phi logic, nó là bước nhảy.

Còn Từ bi, còn Tình Yêu Thuần khiết? Tất cả cũng đều duy nhất đến từ Thiền. Tình Yêu không thể nhiều hơn, khi con người cố gắng để Yêu, còn người rèn luyện để gia tăng Tình Yêu. Điều này là không thể. Càng cố gắng Yêu, càng rèn luyện để gia tăng Tình Yêu, con người sẽ tiêu diệt, sẽ bóp chết Trái Tim của mình. Từ bi cũng vậy, nó không phải là Lòng tốt, nó không phải sự nỗ lực hành Thiện.

Con người cố gắng hành Thiện nhiều, hoặc chỉ là lấy một cái giấy thông hành để đi vào kiếp sau (như người ta thường nói Tu Phúc) hoặc chỉ là làm cho Bản Ngã được sáng lên. Không là tính toán, không là số học thì sâu thẳm bên trong cũng là sự vị kỷ. Sự xấu xa không có gì là khác nhau. Tình Yêu Thuần khiết và Tư bi không phải vậy.
Trong Tình Yêu trai gái, người đàn ông Yêu người đàn bà, người đàn bà Yêu người đàn ông, họ đều muốn cho, muốn dâng tặng. Muốn cho càng nhiều càng tốt; nhưng trong sâu thẳm của cho, luôn tha thiết nhận. Từ bi và Tình Yêu Thuần khiết không vậy, chỉ biết cho, không biết nhận. Không hề biết nhận. Nó rất đơn giản, nó rất tự nhiên. Người ta có, người ta tràn đầy thì người ta cho. Cho một cách tự nhiên.

Khi đi sâu vào Thiền, Tâm trí được buông bỏ, không còn phân chia, không còn tính toán, thì Tình Yêu Thuần khiết sẽ tràn đầy, hoa Từ bi sẽ tỏa Hương, Tiềm thức khơi mở hoàn toàn. Đó chính là trạng thái Siêu Việt, trạng thái Tĩnh lặng Linh thiêng.

Sự Siêu Việt, sự Tĩnh lặng Linh thiêng không thể áp đặt từ bên ngoài: nó được đào sâu bên trong mỗi con người. Nó là một cái gì đó có thể được nuôi dưỡng, nó là một phần được gọi là Trí Huệ. Nó xuất hiện từ trong sâu thẳm của bản thể con người. Nó lan toả ra bên ngoài, nhưng nó nảy sinh từ bên trong và không có điều ngược lại.

Con người có thể ngồi tĩnh lặng và có thể ép buộc một dạng tĩnh lặng nào đó, và nếu con người liên tục đấu tranh với tâm trí thì có thể có sự kiểm soát nào đó với tâm trí. Thậm trí con người có thể dừng những ý nghĩ, nhưng sẽ không phải là sự tĩnh lặng thực sự, bởi vì những ý nghĩ bị dừng vẫn đang có đó, đang chờ đợi để phun ra. Con người luôn đang ngồi trên núi lửa. Có thể con người đang trong trạng thái kiểm soát, nhưng trong kiểm soát có nghĩa đơn giản là, tất cả các thứ đang trong kiểm soát vẫn có đó, sãn sàng bùng nổ và nó sẽ phun ra cùng sự trả thù.

Dạng tĩnh lặng này không có giá trị. Trong Cơ học Ổn định nó là Trạng thái Cân bằng phiếm định, nó không phải là Trạng thái Cân bằng Ổn định. Nó giống như một hòn bi tròn và rất tròn, đang đứng yên trên một mặt phẳng rất phẳng, giữa hòn bi và mặt phẳng không có bất kể một lực ma sát nào cả. Hòn bi đang đứng yên, nhưng không thể có bất kỳ một sự đảm bảo nào là nó sẽ không chuyển động ngay sau đó. Cân bằng Ổn định là sự ổn định của cái Kiềng ba chân, mỗi chân đều được liên kết chặt với nền đất cứng; sự Cân bằng bền vững.

Tĩnh lặng thực sự không phải là sự tu dưỡng đó. Tĩnh lặng thực sự xuất hiện từ sự hiểu biết về xung đột bên trong, quan sát xung đột bên trong, quan sát liên tục. Tại sao ta đấu tranh? Tại sao? Nhìn sâu vào đó, các bậc chứng ngộ nói rằng dần dần con người sẽ thấy sự ngu ngốc của mình.

Thời điểm con người nhìn thấy sự ngu ngốc, sự ngu ngốc nó sẽ bắt đầu rời khỏi con người, không phải con người bỏ rơi nó. Nếu con người bỏ rơi nó, nó vẫn giữ nguyên trên bề mặt. Khi nó tự nguyện bỏ rơi, đã xuất hiện sự thấu hiểu rằng: Điều này thật ngu ngốc. Bởi chính có sự hiểu biết đó mà có sự giải thoát. Khi con người đã nhìn thấy sự ngớ ngẩn của nó, con người đơn giản là không hợp tác với nó nữa; và không có sự hợp tác của con người, nó không thể tồn tại. Nó hút năng lượng của con người, nó là vật ký sinh.

Thế thì sự xung đột, sự xung đột bên trong, căng thẳng bên trong, mâu thuẫn bên trong, tự nguyên bỏ rơi bởi ánh sáng nào đó của nhận biết đã nảy sinh trong bản thể của con người, thông qua theo rõi, thông qua quan sát, thông qua chứng kiến. Thế rồi bỗng nhiên, sự tĩnh lặng nào đó mà con người chưa từng nghĩ đến, một sự điềm tĩnh nào đó không có trên thế gian này, một cái gì đó mang con người vào thế giới khác, nảy sinh.
Con người vẫn bước đi trên mặt đất, nhưng bàn chân không còn chạm đất. Con người vẫn sống trong thế giới như vậy, nhưng không còn là phần của nó, sự siêu việt đã xảy ra. Đó chính là Niết bàn tịnh tịch. Nó là cái mà Đức Phật đã nói. Nó là cái mà các bậc chứng ngộ đã nói. Nó chính là Tĩnh lặng Linh thiêng, nó chính là Vô ngã Siêu Việt.

Đó là Cứu cánh của mọi Tôn giáo có tính Tôn giáo.

Như vậy đâu cần Tu Thân. Phải hành xác, phải kiểng khem, phải giữ mình trong khuôn khổ, phải Tu Thân, rồi đạt được những Thần thông nào đó… Tất cả những cái này có nghĩa gì?

Hành xác là một điều ngu xuẩn. Trước khi chứng ngộ, trong sáu năm tu tập Phật Gautam cũng đã từng theo trường phái khổ hạnh. Sau khi chứng ngộ, Ngài có nhắc đến sự lầCấy cối không tự hành hạ mình, chim muông không tự hành hạ mình. Chỉ có con người ngu xuẩn mới tự hành hạ mình.

Nhịn ăn, đánh cơ thể mình, sống trong giá lạnh hoặc sống trong nóng bức. Có những con người, họ quá điên khùng, họ chống lại tự nhiên, để tạo nên ấn tượng ghê gớm; họ thực hiện điều đó dị thường, họ muốn thống trị tôn giáo. Hãy cảnh giác với tất cả những gì phi tự nhiên. Hãy tự do và yêu thương bản thân mình.

Phải kiêng khem, phải giữ mình trong khuôn khổ nào đó,… điều này trong một chừng mực nào đó là có thể chấp nhận. Vì bản thân Phật giáo, Ba Pháp Ấn quan trong nhất là Khổ, Vô Thường và Vô Ngã. Nguyên lý Vô Ngã là một Nguyên lý tuyệt đỉnh. Bất kể mọi sự vật, mọi sinh thể, mọi sự việc,… không tồn tại một mình, mà luôn quan hệ Nhân Quả và Hữu cơ với nhau. Thì đó chính là Pháp, thì đó chính là Giới luật, thì đó chính là quy tắc. Con người muốn tồn tại trong đó, phải Tôn trọng nó, phải hoà vào trong đó; Con người không thể phá vỡ quy tắc này được.

Nhưng tôi Yêu điều này hơn, điều mà Thánh Aurieliu Augustine đã nói. Ngài là nhà triết học và thần học đầu tiên của Thiên chúa giáo, khi có người hỏi rằng: “Ngài có thể cho tôi một lời nói, mà nó bao hàm toàn bộ những luật lệ của những kinh linh thiêng?” Ngài đã trả lời: “Tình yêu, nếu bạn đã yêu thì bất kỹ điều gì bạn làm sẽ đúng hết!” Luật là sơ bộ, là nguyên thuỷ. Tình yêu là đỉnh cao tột đỉnh của mọi luật lệ và lề thói.

Tu thân là tinh thần quan trọng của Nho giáo. Không tử sống cùng thời với Lão tử, cùng thời với Phật Gautama. Nho giáo của Không tử qua hai ngàn năm trăm năm vẫn ảnh hưởng mạnh mẽ với hàng trăm triệu, hàng tỷ người trên Thế giới. Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ.
Cá nhân tôi, luôn coi Nho giáo không có tính Tôn giáo. Khổng tử khuyên con người Tu thân, nhưng không hướng vào trong, khuyên con người hướng ra ngoài. Tu thân, rồi Tề gia, rồi Trị Quốc, rồi Bình Thiên Hạ,… Làm sao mà không tạo nghiệp, làm sao mà không gây nên ân oán. Bình Thiên Hạ được rồi, sướng thì có đó, Hạnh Phúc và Hoan Hỷ làm sao mà có được.

Phúc lạc thì rời xa rồi. Không, Nho giáo không thể có tính Tôn giáo. Nho giáo của người Trung hoa, Nho giáo cho người Trung hoa. Nho giáo dạy người Thành công. Nho giáo không dạy người ta tới Phúc lạc, Hoan Hỷ, Hạnh Phúc.

Nhiều Giáo phái mới dạy các đệ tử của mình những phép Tu thân tạo nên những Thần thông, những nhiệm màu. Tất cả những cái đó là tạo thêm vướng mắc. Thật sự là sai lầm, thật sự là không tốt. Tôi đã nói ở đâu đó rồi, không nhắc lại nữa.

Sex, Dục. Xin nói thêm về điều này. Nói từ Phật giáo. Phật giáo có ba thừa chính: Tiểu thừa, Đại thừa và Kinh cương thừa. Giáo lý của Tiểu thừa lấy diệt dục làm căn bản. Vì dường như tất cả mọi thói quen của con người đều hướng tới dục. Tiểu thừa hướng dẫn cho con người cách từ bỏ dục. Giáo lý Đại thừa coi tính dục như một sự tồn tại, nhưng cùng với tính dục còn có nhiều điều đẹp đẽ và cao cả hơn, mà Tâm trí và Tâm thức con người cần hướng tới. Đó chính là Tình yêu. Đại thừa không sợ dục. Kinh cương thừa là thừa tối thượng. Trong Kinh cương thừa, hình như có cả phép tu từ dục.

Diane Perry một phụ nữ người Anh, có pháp danh là Tenzin Palmo, đã sống trong một hang động có độ cao hơn 4000m trên đỉnh Hymalaya, cách biệt với thế giới bởi những dãy núi cao và băng tuyết quanh năm. Tại đó bà kiên trì thiền định trong suốt 12 năm, trong đó hơn 3 năm cuối cùng là ẩn tu.
Đã kể trong tác phẩm: “Ẩn tu nơi núi tuyết” có đoạn như sau: “Đức Yeshe Tsogyel, sinh năm 757, trong một gia đình cao quý. Ngay từ khi thiếu thời, đức Yeshe Tsogyel đã bọc lộ mọi dấu hiệu cho sự phát triển Tâm linh của mình. Bà công khai tuyên bộ dự định của mình là trở thành Phật ngay trong kiếp này.

Sau nhiều năm thăng trầm, cuối cùng bà gặp Đại sư Padma Sambhava (Liên Hoa Sinh), người được tin rằng đã mang Phật giáo vào Tây Tạng từ Ấn Độ. Các đệ tử gọi ngài là một vị Phật. Padma Sambhava không chỉ là người hướng dẫn thông thái và là đạo sư của Yeshe Tsogyel, mà còn là người tình huyền bí của bà. Chi tiết của sự hợp nhất thiêng liêng này được thi vị hoá và ẩn khuất trong phép ẩn dụ tantra:

“Khi đó, với sự không chút ngượng ngùng và trong phong cách của thế gian, một cách hoan hỷ và tận tuỵ, tôi, Tsogyel, chuẩn bị một mạn đà la huyền bí và dâng cho Guru của tôi. Ánh sáng chói lọi của lòng Từ bi, từ nụ cười của ngài toả ra tia sáng ngũ sắc khiến các cõi giới vi mô tràn ngập ánh sáng trong suốt, trước khi những luồng ánh sáng đó tập trung lên khuôn mặt ngài một lần nữa.

Khi triệu thỉnh bổn tôn với hai từ Dza! Và Hung! được thốt lên, ánh sáng xuyên xuống thân thể ngài và vị bổn tôn huyền bí của ngài hiện lên trong thân tướng phẫn nộ và khi vị Vajra Krodha mà ngài triệu thỉnh xuất hiện trên bông sen thanh khiết trong sự hài hoà tuyệt đối”

Đức Phật khi giảng cho các đệ tử của mình, Ngài nói: “Này các tỳ khoe, ta biết cả cánh rừng, với mỗi tỳ khoe ta bốc một nắm lá rừng và giảng cho các người”. Đấy là cách truyền Pháp của Ngài. Đấy là Thiện xảo. Tuỳ theo căn của mỗi người, Ngài giảng theo một cách. Đấy chính là ngôi đền ba tầng lầu mà Đức Phật đã xây lên, tầng thấp nhất là Tiểu thừa, tầng thứ hai là Đạt thừa và tầng trên cùng là Kim cương thừa. Hãy đừng lấy tầm nhìn của Tiểu thừa về tính dục mà áp đặt cho toàn bộ Tôn giáo.

Nhân loại thường lẫn lộn ranh giới của tính dục và Tình yêu.

Tính dục là bậc thấp nhất của con người; con người cần phải bước qua nó để trở thành Tình yêu. Tính dục là chiếm đoạt, chỉ nhận chứ không cho. Tính dục phục vụ cái sướng của bản thể. Tình yêu là vừa cho và vừa nhận, qua Tình yêu con người đạt tới hạnh phúc. Trong Tình yêu, Tính dục cũng là điều có thể tồn tại, nhưng khi Tình yêu nở hoa thì tính dục không còn.

Tất cả phải là Tình yêu. Con người cần thiết phải bước qua tính dục. Người ta yêu nhau, khi thực sự là Tình yêu, là cách người đàn ông yêu cái bên trong của người đàn bà, và ngược lại người đàn bà yêu cái bên trong của người đàn ông. Người đàn ông hãy đi sâu vào bên trong người đàn bà mình yêu.

Người đàn bà hãy đi sâu vào bên trong người đàn ông mà mình yêu. Vào càng sâu, thì Tính dục không còn quan trong nữa. Tình yêu là vừa cho và vừa nhận. Nhận cái tận cùng của điều đáng nhận, thì chỉ còn năng lượng để cho. Khi đó cho, thuộc tính thuần khiết của Tình yêu, tự động tuôn chảy như một dòng sông; và khi đó Từ bi sẽ nở hoa.
-Cu sy Minh Dat-

Các bài viết khác