Phần 1: Tính Không, Prajnaparamitahridaya Sutra và Tao Te Ching.

Không chỉ có những đệ tử của Gautama Buddha, những Bodhisattva linh thiêng, những Avalokita và Sariputra, trong hành trình xâu xa của Prajnaparamita, đã thấy được Tính Không; mà Lao Tzu, ông già cưỡi trâu xanh, vị Đạo sư của China, dường như cũng đã biết cái tương tự?

Đó là thứ không hình dáng, không màu sắc, không âm thanh, chuyển động liên tục khắp mọi nơi trong vũ trụ và tạo ra mọi thứ. Đó cũng phải chăng, là String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn String, cái không có Tự tính, cái có trước cả trời đất? Cái đã tạo nên các Thực tại, cái đã tạo nên Hiện hữu này?

Tao Te Ching và Prajnaparamitahridaya Sutra đã cũng trao truyền về một điều tương tự. Taoism và Buddhism cùng có sự tương đồng lớn lao về thứ đã tạo nên Thế giới này, thứ đã tạo nên các Thực tại khác nhau, thứ đã tạo ra Hiện hữu; đó phải chăng là String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn cả String; thứ không có Tự tính, thứ chỉ có Dao động và Chuyển động?

0

Bạn đọc kính, quý mến. Bài này chúng tôi đã post lên mạng với tựa đề: “Lý thuyết Chuỗi, Học thuyết M và Siêu hình”. Nay chúng tôi có sửa đổi một vài chỗ và bổ sung phần viết về Tao Te Ching của Lao Tzu. Chúng tôi cũng nhận được sự chia xẻ từ một người mà chúng tôi luôn kính trọng, Nhà giáo Phạm Việt Hưng về một số thông tin và văn phạm để các vấn đề khoa học được trình bày được gần hơn với cái đúng cái đẹp; cũng để thống nhất với cách gọi chung, chúng tôi đổi cụm từ Lý thuyết Chuỗi bằng Lý thuyết Siêu dây, và từ Chuỗi chúng tôi tạm dùng là String.

1

Sau khi công bố Thuyết Tương đối, nhiều năm sau và cho tới cuối của cuộc đời, Einstein đã luôn có một ước mơ lớn về một dự án; dự án này còn lớn hơn cả Thuyết Tương đối. Đó là ước mơ lãng mạn về Học thuyết hợp nhất các trường. Ông muốn hợp nhất Thuyết Tương đối với Cơ học Lượng tử, hợp nhất thế giới của Thiên hà và thế giới Hạ nguyên tử. Phải chăng, ông muốn sửa lại câu nói, của chính ông: “Chúa không chơi trò xúc xắc”. 

Ông đã dành hơn ba mươi năm cho ước mơ này. Nhưng ông đã dang dở. Ngày nay, hơn nửa thế kỷ sau, nhiều nhà khoa học tin rằng Chén thánh của Vật lý học hiện đại đã xuất hiện. Xuất hiện để hợp nhất các trường, đó là Lý thuyết Siêu dây. Nhưng nó sẽ không thể nào là Lý thuyết của Tất cả; đơn giản là không bao giờ có một Lý thuyết về Tất cả, cái về Tất cả không đến từ bất kể một lý thuyết nào!

Có lẽ, bắt đầu phải kể đến Gabriele Veneziano, nhà vật lý trẻ; năm 1968, ông đã dùng hàm số beta Euler, mô tả đặc tính của hạt tương tác mạnh. Một công thức không có lời giải thích; đơn giản chỉ mô tả.
Sau đó 1970, Yoichiro Nambu, Holger Nielsen và Leonard Susskind đã tìm ra bí mật ẩn sau công thức này. Các nhà vật lý đã cho thấy rằng, nếu lập mô hình các hạt cơ bản như các String một chiều, cực nhỏ và dao động, thì tương tác hạt nhân giữa chúng có thể mô tả chính xác bởi hàm Euler. Năm 1974, Schwarz và Joel Scherk, thuộc École Normale Supérieure, sau khi nghiên cứu mô hình giống như hạt đưa tin của String dao động; họ đã thấy rằng các đặc tính của nó phù hợp với hạt graviton; hạt giả định của Lực Hấp dẫn, Hạt của Chúa.

Năm 1984 nhà vật lý Michael Green và John Schwarz đã cung cấp bằng chứng thuyết phục rằng Lý thuyết Siêu dâu có thể giải quyết được xung đột giữa Cơ học Lượng tử và Thuyết Tương đối. Họ cho rằng học thuyết này có khả năng xử lý được tất cả 4 loại lực và mọi loại vật chất.

Lực tương tác trong thế giới Vĩ mô là Lực Hấp dẫn. Lực tương tác trong thế giới Hạ nguyên tử là các Lực Điện từ, Lực yếu và Lực mạnh. Lực Hấp dẫn là lực khá quen thuộc. Khối lượng của một vật tượng trưng cho mức độ Lực Hấp dẫn tác động lên nó. Lực Điện từ có trong các trang thiết bị hiện đại: bóng đèn, máy vi tính, truyền hình,… và tiềm ẩn trong các cơn bão.

Lực Điện từ mạnh hơn Lực Hấp dẫn (của chúng) khoảng một triệu tỷ tỷ tỷ tỷ lần, bốn mươi hai số không sau số một! Lực mạnh, Lực yếu là hai loại lực nguyên tử. Lực mạnh giúp các hạt quark dính vào nhau trong hạt proton và hạt notron; và giúp hạt proton và hạt notron ép chặt vào nhau trong Hạt nhân nguyên tử. Lực yếu là lực gây ra sự phân rã phóng xạ, và chi phối cũng phản ứng tổng hợp hidro, một phản ứng quan trọng tạo ra năng lượng trong Mặt trời.
Lực mạnh mạnh hơn một trăm lần Lực Điện từ, và mạnh hơn một ngàn lần Lực yếu. Lực yếu không phải là lực yếu nhất, lực yếu nhất là Lực Hấp dẫn, nó yếu hơn các lực khác khoảng triệu tỷ tỷ tỷ tỷ lần. Lực Hấp dẫn cực kỳ yếu.

Mỗi lực trong tự nhiên có quan hệ với một loại hạt cơ bản, để truyền lực đó. Lực Điện từ và hạt photon. Lực mạnh và hạt gluon. Lực yếu và hạt boson yếu. Lực hấp dẫn là hạt graviton. Năm 1960, Nhà vật lý người Anh Peter Higgs, đưa ra lý thuyết về Trường Higgs.

Trong lý thuyết này, ông đã giả thiết rằng có một dạng lưới phủ đầy Vũ trụ, trong đó tồn tại một hạt, cũng có thể là một tập hợp hạt, mà chúng có thể tạo ra những hạt có khối lượng khác. Hạt đó, các nhà khoa học đặt tên cho nó là hạt Higgs, Hạt của Chúa. Năm 2013, thế giới chấn động khi đã xác định và phát hiện ra loạt hạt này. Giải Nobel danh giá của Vật lý năm đó đã dành cho Francois Englert và Peter Higgs. Hạt của Chúa đã xác định.

Quan niệm cơ bản đầu tiên của Lý thuyết Siêu dây, String Theory, là: các hạt cơ bản chưa phải là cơ bản. Nếu có thể khảo sát các hạt này ở mức độ chi tiết hơn, mức độ chi tiết vượt ra ngoài khả năng của công nghệ hiện đại ngày nay, hạt cơ bản sẽ không phải là một chấm, mà là một String. String có kích thước vô cùng nhỏ và luôn luôn dao động.

Dù là hạt muon, hạt quark, hạt electron,… tất cả các loại hạt đã tạo nên nguyên tử, đã tạo nên hạt nhân của nguyên tử; mỗi hạt có một số thông số nhất định, có một số thuộc tính nhất định. Những thông số này, những thuộc tính này của hạt được phản ánh qua các đặc trưng của dao động của String, qua các mode dao động, qua biên độ dao động và qua tần số dao động của String.

Các hạt có các lực trong tự nhiên, điện tích, khối lượng,… được phản ánh qua các đặc trưng dao động của String, qua tần số dao động của String. Năng lượng của hạt cơ bản được biểu diễn qua các đặc trưng dao động của String. Mở rộng ra, kết cấu vi mô của vũ trụ sẽ là một mê cung nhiều chiều xoắn. Trong đó các String không ngừng dao động và quấn lại với nhau. Vũ trụ được vận hành nhịp nhàng từ các dao động của String.

Quan điểm cơ bản thứ hai là việc phát triển trên nền của Hình học Lượng tử. Một thứ hình học cong, do Georg Bernhard Riemann phát triển từ thế kỷ 19. Thứ hình học thoát ly khỏi những ý niệm phẳng và giới hạn phẳng của Hình học Euclidean. Einstein đã nhận thấy rằng toán học trong Hình học Riemann tương thích hoàn toàn với Vật lý Hấp dẫn.

Nhưng với độ dài Planck thì sự tương thích này không còn. Năm 1919, một Nhà Toán học người Balan, Theodor Kaluza đề xuất Vũ trụ không chỉ có 3 chiều Không gian, có thể có nhiều hơn thế. Năm 1929, nhà toán học người Sweden, Oskar Klein, phát biểu rằng kết cấu không gian Vũ trụ có thể vừa có những chiều mở vừa có những chiều xoắn. Các chiều xoắn thường có kích thước nhỏ hơn rất, rất nhiều lần so với các chiều mở. Vũ trụ dường như có nhiều chiều hơn so với những gì mắt con người có thể nhìn thấy.

Hình học các chiều Không gian bị xoắn, hay gọi là Không gian Phụ, quyết định thuộc tính Vật lý cơ bản; chẳng hạn: khối lượng hạt, điện tích hạt mà đã quan sát được trong Không gian ba chiều thông thường. Đó chính là Ý nghĩa Vật lý của các chiều Không gian Phụ.

Giữa năm 1990, Edward Witten bằng những tính toán của mình, và kết hợp các công trình nghiên cứu của Michael Duff (đại học Texas A&M), của Chris Hull và Paul Townsend (đại học Cambridge), đã kết luận rằng có thể mô tả Vũ trụ bằng 10 chiều Không gian và 1 chiều Thời gian. Trong đó có 3 chiều Không gian mở và 7 chiều Không gian bị xoắn. Năm 1995 tại Đại học Nam California, ông đã công cố kết quả này. Một chấn động trong giới khoa học. Một cột mốc của lịch sử phát triển Vật lý hiện đại.

Mười một chiều, Không Thời gian mười một chiều. Witten tạm thời đặt tên nó là Học thuyết M; một đỉnh cao của Lý thuyết String. Có thể hiểu nó là Học thuyết Bí ẩn (Mystery), Học thuyết Mẹ (Mother), Học thuyêt Màng (Membrane) hoặc Học thuyết Ma trận (Matrix).

Nhưng dù sao nó không bao giờ có thể là Học thuyết của mọi thứ; điều này tương tự như dù sao thì Trái đất vẫn quay. Tôi nói, tôi nghĩ, tôi tin: dù sao nó không bao giờ có thể là Học thuyết của mọi thứ, tôi không nhìn thấy các dàn hoả thiêu thời Trung cổ; trong tôi là sự Tin cậy và An bình.

2

Vật chất được cấu tạo từ các phân tử. Cơ thể sống được cấu tạo từ các tế bào. Tế bào, phân tử được cấu tạo từ các nguyên tử.

Nguyên tử được tạo thành từ một hạt nhân mang điện tích dương nằm ở tâm và các electron mang điện tích âm chuyển động xung quanh. Hạt nhân được tạo thành từ các hạt proton mang điện tích dương và các hạt neutron không mang điện. Một hạt proton được cấu tạo bởi hai hạt quark trên và một hạt quark dưới. Một hạt neutron được cấu tạo bởi hai hạt quark dưới và một hạt quark trên,… Mỗi nguyên tố chỉ có một số proton duy nhất, nhưng có thể có số neutron khác nhau.

Các electron chuyển động xung quanh hạt nhân trên các quỹ đạo. Mỗi quỹ đạo được đặc trưng bởi ba số lượng tử: số lượng tử chính, số lượng tử phương vị và số lượng tử từ. Trên mỗi quỹ đạo có thể có hai electron, nhưng hai electron này phải có một số lượng tử thứ tư là spin khác nhau. Các quỹ đạo của electron không phải là những đường cố định mà ngẫu nhiên.

Mô hình nguyên tử giống như mô hình Thái dương hệ. Rất rỗng. Hạt nhân ở tâm nguyên tử, chiếm một vùng không gian rất nhỏ bé. Nhỏ bé so với nguyên tử. Phần bên ngoài là quỹ đạo chuyển động của các electron. Nếu hạt nhân là một quả cầu ở tâm, bán kính là 1m.

Các electron chỉ to bằng hạt cát. Các electron chuyển động theo các quỹ đạo, khi ở gần hạt nhân nhất thì khoảng cách đó cũng là 100km! Bằng khoảng cách từ Sài gòn ra Vũng tàu. Rất, rất rỗng. Tất cả đều là Chân không. Một quả cầu đường kính lớn hơn 200 km, bằng khoảng cách từ Sài gòn ra Phan thiểt, giữa tâm có một khối cầu 2m, bên ngoài có một số không nhiều lắm các hạt cát chuyển động. Rỗng và rất rỗng. Tất cả đều Chân không.

Tôi đã biết như vậy. Tôi đã biết như vậy từ khi là sinh viên đại học. Giờ đây sau nhiều năm, tôi vẫn biết vậy. Gần đây tôi có đọc một số bài viết của vài tác giả, giải thích Tính Không theo mô hình Thái dương hệ của nguyên tử. Tôi cũng đã quán tưởng chủ đề này, trong nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều tháng trong Thiền. Nhưng có điều gì đó không thể là Ánh sáng được. Không thể. Những hạt nhân, khối lượng chính của nguyên tử.
Những hạt quark, những hạt neutron, những hạt proton,… Chúng đã tạo nên hạt nhân có khối lượng đậm đặc! Đạt tới 100 triệu tấn trong 1 centimet khối. Tính Không thể nào được? Làm sao phá chấp được mật độ khối lượng đậm đặc này? Và hạt nhân của mỗi nguyên tử là khác nhau – cái Tự tính của nguyên tử. Tôi vẫn thao thức như vậy.

Nhưng rồi, khi biết Lý thuyết Siêu dây, String Theory, và đỉnh cao của nó là Học thuyết M, thì có nhiều điều sáng tỏ trong tôi.

Một trong hai nội dung cơ bản của các Học thuyết này, là các hạt cơ bản được mô tả bằng các String, mỗi hạt cơ bản là một String. Có thể là String một chiều, hoặc Màng hai chiều, hoặc Yếu tố ba chiều. Về cơ bản, ba trường hợp này là không khác nhau. Từ String một chiều sang các yếu tố khác, chỉ là sự thay thế hàm một biến thành hàm hai biến, hoặc hàm ba biến mà thôi. Thuật toán phức tạp hơn. Ý nghĩa Vật lý không thay đổi. Các nhà khoa học nói vậy. Vậy sẽ là String một chiều, ở đây.

Các Hạt cơ bản được mô tả bằng String. Mỗi Hạt cơ bản có một String tương ứng. Tất cả các String là giống nhau. Sự khác nhau của các Hạt cơ bản biểu hiện qua phương cách dao động khác nhau của String. Tần số dao động và các mode dao động chính là dấu vân tay của String, là đặc trưng nhận dạng của String.

Các Hạt cơ bản được mô tả bằng String. Hạt electron, các loại hạt quark là String. Hạt nhân Nguyên tử được cấu tạo từ các hạt neutron, hạt proton; các hạt neutron và các hạt proton được cấu tạo từ 3 hạt quark. Hạt nhân Nguyên tử sẽ là tổ hợp không nhiều lắm các String. Nguyên tử được cấu tạo từ Hạt nhân ở tâm, và một số không nhiều lắm hạt electron chuyển động xung quanh. Nguyên tử sẽ là tổ hợp không nhiều lắm các String, ở tâm mật độ String nhiều hơn ở bên ngoài.

String hay còn gọi là dây, một chiều, có chiều dài cực kỳ ngắn. Đó là chiều dài Planck, bằng 10-35m (số 1 đứng sau ba mươi lăm con số 0, sau dấu phẩy). Kích thuớc Hạt nhân nguyên tử vào khoảng 10-15m. Kích thước Nguyên tử vào khoảng 10-10m. Chiều dài String, nhỏ hơn một trăm tỷ tỷ lần so với kích thước Hạt nhân nguyên tử.

Chiều dài String, nhỏ hơn một triệu tỷ tỷ lần so với kích thước Nguyên tử. Quay trở lại với mô hình Nguyên tử, chúng ta đã ví dụ, một quả cầu có đường kính lớn hơn 200km, gần bằng khoảng cách từ Sài Gòn ra Phan Thiết. Quả cầu Nguyên tử này, theo Lý thuyết Siêu dây là trống rỗng và cực kỳ trống rỗng, không có gì ngoài một số không nhiều lắm các String, có chiều dài bằng 2×10-10m, bằng 2×10-7mm, bằng 20 nanometre; chúng chuyển động và dao động.

Rỗng và cực kỳ trống rỗng. Tất cả đều trống không, sự trống không bao la.

3

Tâm kinh, Prajnaparamitahridaya Sutra, như có trong tôi mỗi ngày. Mỗi ngày, là sáng là chiều là đêm, lời Kinh linh thiêng như luôn hiển hiện trong tâm trí:

“Avalokita vị Bodhisattva linh thiêng, đang đi vào hành trình sâu xa của Prajnaparamita, đã vượt ra bên ngoài, nhìn xuống từ trên cao và thấy năm uẩn đều không.”

Ngài đã thuyết: Này Sariputra! Hình dáng là Không, Không là hình dáng. Hình dáng không khác gì Không. Không không khác gì hình dáng. Dù hình dáng là gì, đấy cũng là Không; dù Không là gì, đấy cũng là hình dáng. Điều này cũng đúng cho quá trình Tâm thức của Con Người là Thọ, Tưởng, Hành và Thức.””

Avalokita, vị Bodhisattva biểu hiện cao nhất của Từ bi và Tình yêu đã giảng cho Sariputra, vị Bodhisattva trí tuệ bậc nhất, như vậy. Tâm kinh không phải lời của Trí tuệ. Tâm kinh cũng không phải lời của Trái tim, của Tình yêu. Lời Tâm kinh là Logos, thứ Siêu việt trên cả Tình yêu, thứ Siêu việt trên cả Trí tuệ.

Avalokita và Sariputra những Bodhisattva, nhưng sinh linh thượng đẳng, chỉ còn một bước nữa là họ đạt tới Prajnaparamita, họ sang Bờ bên kia. Họ đang ở một chiều không gian khác; họ đang ở một Thực tại khác, cao hơn Thực tại Vật lý bất toàn này; họ ở một tầng cao Tâm thức khác, cao hơn rất nhiều Tâm thức nhân loại; Tâm thức của Vô ngã của anatta. Chính họ, chỉ họ mới nhìn thấu Hiện hữu, thấy các tầng Thực tại khác nhau, thấy Tính Không. Phải chăng, họ đã thấy rõ được các String, hay thứ còn cơ bản hơn String, hay thứ còn vi tế hơn String. Có phải chăng là vậy? Họ đã nhìn thấy String, hoặc cái cơ bản hơn cả String, hoặc cái vi tế hơn String? Họ đã nhìn bằng vận tốc lớn hơn Vận tốc Ánh sáng?

4

Không chỉ có những đệ tử của Gautama Buddha, những Bodhisattva linh thiêng, những Avalokita và Sariputra, trong hành trình sâu xa của Prajnaparamita; đã buông bỏ mạnh mẽ lòng tham, đã buông bỏ mạnh mẽ Tâm trí; mọi tường ngăn, mọi hàng rào luân lý, mọi lớp vỏ của Tâm xụp đổ và tan biến; đạt đến Vô ngã; Tình yêu tràn đầy, Hoa Từ bi toả hương; họ đã biết, đã thấy bằng cái lớn hơn 300.000 km/s; thấy Hiện hữu; thấy Tính Không; thấy tất cả là String hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn String; thấy tất cả đều không có Tự tính?

Mà Lao Tzu, vị Đạo sư của China, dường như cũng đã biết cái tương tự? Trong Tao Te Ching, có tám mươi mốt chương, có vài chương Lao Tzu đã viết về Tao như thế này:

“Ở trên không sáng,
ở dưới không tối,
sâu xa bất tuyệt,
không thể gọi tên,
nó lại trở về cõi không vật,
cho nên bảo là không có hình dạng,
không có vật thể.
Nó thấp thoáng, mập mờ.
Đón nó thì không thấy đầu,
theo nó thì không thấy đuôi…
” (Chương14, Tao Te Ching)

Te là hình của Tao
Tao là cái mập mờ, thấp thoáng
thấp thoáng mập mờ mà bên trong có hình dáng
mập mờ thấp thoáng mà bên trong có vật
nó sâu xa, tối tăm
mà bên trong có cái tinh túy
tinh túy đó rất xác thực, và rất đáng tin.

Từ xưa đến nay
Tao luôn tồn tại
nó sáng tạo vạn vật.

Biết được bản chất của vạn vật
Đó là do Tao” (Chương 21, Tao Te Ching)

Có một vật hỗn độn mà thành
trước cả trời đất.

Nó không tiếng động, không hình dáng,
một mình mà không thay đổi,
chuyển động liên tục khắp vũ trụ,
có thể nó tạo ra mọi vật trong tự nhiên.
Ta không biết nó là gì, gọi là Tao
,…” (Chương 25, Tao Te Ching)

Có một chút mập mờ thấp thoáng, có một chút mơ hồ. Mơ hồ vì ngôn ngữ thời đó của người China, với âm dương và năm yếu tố: đất, nước, sắt, lửa và nước, thật khó có thể diễn đạt cụ thể hơn. Mơ hồ vì nó lạc lõng với tinh thần, với Tâm trí của người China; loại người luôn nỗ lực với tham vọng thành công về tiền tài, quyền lực, danh vọng và tình dục; đỉnh cao cuộc sống của họ là sự vươn lên để làm bá chủ thiên hạ. Mơ hồ, lạc lõng vì Tâm thế của Confucianism, thứ tư tưởng chính của người China không hướng tới sự thành tựu tiến hoá về Tâm thức. Vậy nên nó đã là mơ hồ, mơ hồ với người China, mơ hồ trong ngôn ngữ của Lao Tzu diễn đạt với họ; dù cho với Lao Tzu nó thật là tinh tuý, xác thực và đáng tin cậy.

Đó là thứ không hình dáng, không màu sắc, không âm thanh, chuyển động liên tục khắp mọi nơi trong vũ trụ và tạo ra mọi thứ. Đó cũng phải chăng, là String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn String, cái không có Tự tính, cái có trước cả trời đất? Cái đã tạo nên các Thực tại, cái đã tạo nên Hiện hữu này?

Tao Te Ching và Prajnaparamitahridaya Sutra đã cũng trao truyền về một điều tương tự. Taoism và Buddhism cùng có sự tương đồng lớn lao về thứ đã tạo nên Thế giới này, thứ đã tạo nên các Thực tại khác nhau, thứ đã tạo ra Hiện hữu; đó phải chăng là String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn cả String; thứ không có Tự tính, thứ chỉ có Dao động và Chuyển động?

5

Tôi đã và luôn thao thức, thao thức một Công án; với tôi (lúc này) là một Công án Tối thượng:

Có phải chăng khi Tình yêu tràn đầy, khi hoa Từ bi ngào ngạt toả hương; khi mà Bodhisattva không là Bodhisattva, khi chúng sinh không là chúng sinh, khi Christ không là Christ, khi Tha nhân không còn là Tha nhân; khi mọi giác quan, hệ thần kinh, não bộ, tư duy, suy nghĩ, cảm xúc, thói quen, tri thức và Tâm trí,… cùng mọi vọng gác, mọi hàng rào, mọi tường ngăn, mọi lớp vỏ, mọi lớp chăn phủ… cùng lúc sụp đổ, cùng lúc biến mất; thế thì, thế giới Vật biến mất? Khi mà, Năng lượng Tình yêu bao la, ngập tràn; khi mà, Hương Từ bi phủ khắp không gian Vũ trụ, Thế giới Vật biến mất, mọi dạng đều chỉ tới vô dạng; và mọi dạng đều thăng hoa và hoà nhập vào các dạng khác; một khoảng không bao la, cả đại dương và cả bầu trời; Hệ Mặt trời, Thái dương hệ, cả Vũ trụ, nhiều Vũ trụ cùng hoà vào nhau, vô giới hạn; cái đẹp vô ngần, thuần khiết, tinh tuý, chân lý… Có phải chăng nó là như vậy? Có phải chăng đó là Hiện hữu?

Có phải chăng; khi các ý nghĩ dừng lại, toàn thể cơ chế Người dừng lại. Con người đã thoát vào trong thế giới dưới Bầu trời mở. Con người thấy mọi thứ như chúng vậy; và thấy rằng mọi thứ không tồn tại; ngàn năm nay, triệu năm nay chúng đã chỉ là diễn giải? Những ảo ảnh, sản phẩm của Tâm trí Con người, của những lớp vỏ, của những quy tắc, của những lề thói, của những luân lý, của những đạo đức, của những luật lệ, của những giới pháp?

Chỉ các Hiện hữu tồn tại; không có Vật nào trong thế giới? Tảng đá, tảng đá là một Hiện hữu? Cây, cây cũng là một Hiện hữu; chim là một Hiện hữu; mây là một Hiện hữu; Mặt trời là một Hiện hữu; tia nắng, tia nắng cũng là một Hiện hữu? Mọi hình dáng đều là các Hiện hữu? Thế giới vật, thế giới người biến mất? Không phải là đá sẽ không có đó, không phải là cây sẽ không có đó, không phải là chim sẽ không có đó; chúng sẽ có đó thậm chí nhiều hơn thế, nhưng chúng sẽ không còn là cây, không còn là đá, không còn là chim nữa; chúng sẽ là những Hiện hữu?

Tâm trí con người đã biến mọi Hiện hữu thành vật? Khi con người thoát ra khỏi Tâm trí và có cái nhìn dưới Bầu trời mở, đột nhiên chẳng có gì chút nào? Tính vật biến mất? Tất cả chỉ còn String, hoặc các cơ bản hơn String, cái vi tế hơn String; chúng đang Dao đông. Có phải chăng là vậy? Có phải chăng đó là Hiện hữu?

Có phải chăng; khi Tâm trí mất đi, điều thứ hai mất theo là Vật? Toàn Vũ trụ đầy những Hiện hữu, Hiện hữu đẹp, Hiện hữu thuần khiết, Hiện hữu tinh khôi, bởi vì tất cả chúng đều tham gia vào Hiện hữu Tối thượng của Thượng đế? Và khi đó những cái không phải là Vật, cũng biết mất?

Các định nghĩa biến mất, các quan niệm biến mất, các phân chia biến mất, tất cả mọi Lý thuyết biến mất; Thuyết Tương đối của Einstein biến mất, Nguyên lý Bất định của Werner Heisenberg biến mất, Định lý Bất toàn của Kurt Gödelđã biến mất, Lý thuyết Siêu dây biến mất, Không gian mười một chiều biến mất; Phép Biện chứng của Friedrich Hegel biến mất, Chủ nghĩa Hiện sinh của Kierkegaard, của Husserl biến mất; các giới hạn và phân chia biến mất? Các lâu đài tri thức, các đền đài tư tưởng cùng lúc sụp đổ? Một Nhận biết mới bắt đầu?

Đột nhiên con người thấy cây bắt nguồn từ đất, không tách rời; gặp gỡ với trời, không tách rời; giao hoà cùng các tia nắng; hân hoan với ánh trăng vàng; rộn ràng với muôn triệu Hiện hữu? Đột nhiên con người thấy mình và mọi người đều bắt đầu từ Một; Cơ thể và Bầu trời, các Vì sao là giao hoà, là giao cảm, là hữu cơ và mật thiết? Mọi thứ được gắn với nhau; mọi con người đều là thành viên của mọi con người khác?

Tình yêu ngập tràn, Hoan hỷ tràn trề, Từ bi ngào ngạt và dạt dào. Toàn thể Vũ trụ trở thành một mạng Tâm thức, hàng triệu và hàng triệu Tâm thức, chói sáng, rực sáng từ bên trong, mọi bộ phận, mọi yếu tố, mọi nguyên tử, mọi tế bào, mọi hạt cơ bản, mọi String, mọi thứ vi tế hơn String đều rực sáng? Hình dạng có đó, nhưng chúng không còn là vật chất; chúng là Năng lượng, dao động, và biến đổi? Phải chăng tất cả, tất cả chúng đều là String, đều là cái cơ bản hơn String, đều là cái vi tế hơn String. Cái để biến đổi chính là Tần số dao động của chúng? Có phải chăng đó là điều đang xảy ra? Có phải chăng String hay cái cơ bản hơn String, cái vi tế hơn cả String, tất cả đang chuyển động và dao động là Hiện hữu?

Có phải chăng đó là Hiện hữu? Có phải chăng đó là Tính Không, Sunyata?

Phải chăng cơ chế là vậy, cơ chế Chứng ngộ, cơ chế Nhận biết, cơ chế Tỉnh táo là vậy? Cái tôi buông bỏ, đạt đến Vô ngã, Tình yêu tràn đầy, Hoa Từ bi toả hương, mọi tường ngăn, mọi hàng rào, mọi lớp vỏ xụp đổ và tan biến, Tâm trí tan biến, Avalokita đã biết, đã thấy bằng cái lớn hơn 300.000 km/s; thấy Hiện hữu; thấy Tính Không; thấy tất cả là String hoặc cái cơ bản hơn String, vi tế hơn String; thấy tất cả đều không có Tự tính?

Có phải chăng Học thuyết M đã chạm tới cái mà Siêu hình đã biết từ hàng ngàn năm trước, Tính Không? Khi một vật trở nên biểu lộ, thế thì nó là vật chất. Khi nó trở thành không biểu lộ nó là Hiện hữu. Cái khi còn bản ngã, thì nó biểu lộ; cái khi là vô ngã, anatta thì nó không biểu lộ, cái là Hiện hữu. Hiện hữu, Tính không là thứ không có Tự tính, chỉ còn là String hoặc thứ cơ bản hơn String, hoặc thứ vi tế hơn cả String; chỉ là dao động: tần số, thứ không có Tự tính?

Hơn hai ngàn năm trước, Avalokita, Sariputra và Lao Tzu đã biết được điều đó, nhưng dường như không chỉ những Con người này biết được điều đó.

Phần 2: Tần số, Thiền và Chứng ngộ.

Bất kể sự Cộng hưởng nào, vật bị cưỡng bức cũng bùng nổ và phát tích năng lượng trong nội tại của nó. Dầm cầu Cộng hưởng với nguồn cưỡng bức, năng lượng trong nội tại của nó bùng nổ và sự phá huỷ tức thì xảy ra. Sự Chứng ngộ, là Cộng hưởng Tối thượng thì Năng lượng phát tích và bùng nổ sẽ lớn khủng khiếp vô cùng. Luận sư Osho và kinh điển Buddhism cũng có nói về điều này.

Khi một Buddha xuất hiện, khi một Christ xuất hiện, không chỉ Trái đất, Hệ Mặt trời mà cả Vũ trụ cũng tương tác, hân hoan, rộn ràng hơn trong vòng quay của Thượng đế. Thứ Năng lượng bùng nổ phát tich từ một Buddha, từ một Christ khi Chứng ngộ, mà tác động tới Trái đất, tới Hệ Mặt trời, tới Vũ trụ, chỉ có thể đó là Linh hồn.
Chứng ngộ là sự Sáng tạo cuối cùng trong hành tình sáng tạo và hoàn thiện của Linh hồn về với Linh hồn Tối thượng. Có phải chăng là vậy?

1

Không chỉ giới hạn với Prajnaparamitahridaya Sutra, không chỉ giới hạn với Tao Te Ching; vào thời Lao Tzu viết Tao Te Ching, thời Avalokita thuyết giảng cho Sariputra; ở Greece và Ancient Rome cũng có một bộ sách nói về những điều tương tự, đó là Hermetica. Hermetica chứa đựng những lời dạy của Hermes Trismegistus, những trao truyền cho các đệ tử. Hermes Trismegistus nhà Tiên tri Egypt cổ; Hermes Trismegistus còn có nghĩa là Thrice Great – Bộ ba vĩ đại, vì ông nắm giữ ba chiếc chìa khoá bí mật về: Thuật giả kim, Chiêm tinh học và Thần bí học.

Văn minh Greek cổ và Roman cổ mang nhiều hình ảnh và hơi hướng của Hermeticism. Nhưng Hermetica không là của Greek cổ và Roman cổ. Nhà Cổ vật học Egyptian, Flinders Petrice cho rằng Hermetica có vào khoảng 500-200 TCN; đây là bản dịch tiếng Greek của triết học cổ Egyptian.

Nguyên bản Egyptian thì không còn vết tích, có lẽ nó đã bị hủy trong các cuộc chiến tranh dành. Hermetica không phải là triết học Greek cổ. Hermetica là văn bản Greek, nhưng là học thuyết Egyptian cổ. Trong tác phẩm có rất nhiều vết tích và sự việc diễn ra tại Egypt, sớm hơn cả Egypt; miêu tả cuộc sống và xã hội của lưu vực sông Nile. Hermetica, không phải là triết học, nó là huyền học Egyptian cổ. Hermetica là sương sống, là cốt tuỷ của Hermeticism, thứ huyền học kỳ bí, nhưng minh triết về Thần thánh, Vũ trụ, Tâm trí, Con người và Thiên nhiên.

Bản English lâu đời nhất, có lẽ là bản Corpus Hermeticum do Marsilio Ficino dịch từ bản Latin, đã xuất bản năm 1650 tại London, UK. Nhà sử học Scott Walter, cũng đóng góp một bản khác, bản biên dịch sang English và xuất bản năm 1924: Hermetica. Trong đó, ông đã lược bớt một lượng lớn nội dung huyền bí liên quan đến Thuật giả kim; tuy nhiên, vì vậy lại có thể giúp người đọc nhận biết rõ hơn được những tư tưởng đặc trưng của Hermes Trísmegistus. Cuốn sách được tái bản năm 1994 bởi nhà xuất bản Shambhala.

Năm 1908, Three Initiates – Ba người ẩn tu, cho xuất bản cuốn The Kybalion, thứ Triết học Kỳ bí. The Kybalion được tự xưng là những lời dạy của Hermes Trísmegistus. Sách nói về bảy Quy luật của Vũ trụ, nhưng quy luật được đưa ra từ Hermes Trísmegistus.

Hermetica, Corpus Hermeticum và The Kybalion là những vết tích còn lại của Hermes Trismegistus, đó là những tài sản chính còn lại của Hermeticism.

Trong Hermeticism, khi trao truyền cho các đệ tử, Hermes Trísmegistus có dẫn giải bằng nhiều nguyên lý; những nguyên lý mô tả Thần thánh, mô tả Vũ trụ, mô tả Tâm trí, mô tả Con người và mô tả Thiên nhiên. Đó là những khám phá của ông ấy cho Tri thức Nhân loại. Trong đó, có hai nguyên lý rất đặc biệt. Nguyên lý thứ nhất là:

Tất cả là Tâm; ai nắm được bản chất tinh thần của Vũ trụ, người đo tiến gần tới Chân lý”,

Và nguyên lý thứ hai:

Ai biết được nguyên lý Rung, người đo nắm được Cây trượng Quyền năng”

Hai nguyên lý này, khái quát toàn bộ Nhận biết của Hermeticism về Hiện hữu. Có nhiều tầng sâu trong hai nguyên lý này. Dường như, hai nguyên lý này, có những điều cụ thể hơn, vật lý hơn, trực quan hơn so với Tao Te Ching và Prajnaparamitahridaya Sutra; dường như nó có vẻ thích hợp, gần gũi với tư duy của Con người tại thời điểm này, điểm cuối Thời đại Song ngư, điểm đầu Thời đại Bảo bình.

2

Không có gì đứng yên; tất cả chuyển động; tất cả rung động.” – The Kybalion

Hermes Trismegistus dường như cũng đã biết, biết cái Lao Tzu đã biết, biết cái Avalokita và Sariputra đã biết. Tất cả là do Tâm trí diễn giải. Họ dường như đã thấy mọi thứ như chúng vậy; thấy rằng mọi thứ không tồn tại. Nile, Kim tự tháp, tượng Sphinx,… tất cả đều không tồn tại; ngàn năm nay, triệu năm nay chúng đã chỉ là diễn giải? Những ảo ảnh, sản phẩm của tâm trí con người; của những lớp vỏ; của những quy tắc; của những lề thói; của những luân lý; của những đạo đức; của những luật lệ; của những giới pháp? Họ dường như đã thấy các Hiện hữu; không có vật nào trong thế giới, không có vật nào trong Vũ trụ?

Họ đã thấy sông Nile, sông Nile là một Hiện hữu? Họ đã thấy Kim tự tháp, Kim tự tháp cũng là một Hiện hữu; thấy tượng Sphinx là một Hiện hữu? Mọi hình dáng đều là các Hiện hữu? Thế giới Vật, thế giới Người là diễn giải? Không phải là sông Nile đã không có đó; không phải là Sphinx đã không có đó; không phải là Kim tự tháp đã không có đó; chúng đã có đó thậm chí nhiều hơn thế, nhưng chúng đã không còn là Nile, không còn là Sphinx, không còn là Kim tự tháp nữa. Chúng là những Hiện hữu; chúng rung động?

Chúng là các String hay cái cơ bản hơn String, hay cái vi tế hơn String; tất cả đang chuyển động và dao động? Con người, Bầu trời, Trái đất, các Vì sao và cả Vũ trụ đã là một mạng lưới các String hay cái cơ bản hơn String, hay cái vi tế hơn String, tất cả đang chuyển động và dao động? Hermes Trísmegistus, Lao Tzu, Avalokita và Sariputra đã biết vậy, đã thấy vậy?

Hermes Trísmegistus còn cụ thể hơn nữa, ông đã đi thêm một bước nữa trong trao truyền:

Lời dạy Hermetic nói là không những tất cả mọi thứ đều di chuyển và rung động liên tục, mà sự khác nhau của tất cả là hoàn toàn do sự khác biệt về mức độ rung động (tần số dao động) và dạng của dao động. Không những vậy, chính ngay Đấng Toàn năng cũng biểu hiện một sự rung động liên tục, nhưng với một mức độ chuyển động nhanh vô hạn, nhanh như đang đứng yên;
những bậc thầy đã hướng dẫn đệ tử hãy chú ý trong thế giới vật lý khi một vật di chuyển thật nhanh (như là sự xoay nhanh của bánh xe) sẽ thấy nó như đang đứng yên. Lời dạy cũng cho biết là Linh hồn (Spirit) thì ở một đầu bên của Trục rung động và những dạng Vật chất (Matter) nặng nề thì ở đầu bên kia. Chính giữa là rất nhiều, hàng triệu triệu sự khác biệt về mức độ rung động và dạng dao động.
” – The Kybalion.

Hermes Trismegistus đã nói về hai điều. Điều thứ nhất về Thượng đế. Ông ấy đã nói tới Thượng đế, tới Đấng Toàn năng, Toàn hảo thứ Không thể Bất toàn, Thực thể Tuyệt đối; nguồn sáng tạo và vận hành tất cả. Trái đất, Bầu trời, Các vì sao, Hệ Mặt trời, Giải ngân hà,… tất cả đang chuyển động và dao động dưới Năng lượng Siêu phàm này. Thực thể Tuyệt đối không thể là một Thực thể đối lập với một thực Thể khác trong Thực tại bất toàn.

Con người không thể hiểu và cũng không thể BIỂT được Thực thể Tuyệt đối. Cái mà con người tưởng là Cái Tuyệt đối qua tư duy, qua phân biệt không thể là Thực thể Tuyệt đối thực sự. Thực thể Tuyệt đối thực sự chỉ có thể BIẾT khi mọi Tâm trí phân biệt đều được rũ bỏ; chỉ có thể được kinh nghiệm được khi vượt ra ngoài Thực tại bất toàn này và siêu việt lên trên.

Với Tâm trí phân biệt của Chúng sinh, Gautama Buddha đã phải thiện xảo bằng cách siêu việt kiến giải về Thượng đế, về Linh hồn lên một tầng cao khác. Bằng Phương pháp Biện chứng, với Bốn tầng phân biệt (catuskoti), Gautama Buddha đẩy cao Nhận biết này lên một tầng cao khác:

Thượng đế có tồn tại; hay không tồn tại; hay vừa tồn tại, vừa không tồn tại; hay vừa không tồn tại, vừa không không tồn tại?

Buddha không làm phức tạp hoá vấn đề, Ngài đơn giản hoá nó đi. Ngài giải quyết sự Nhận biết có và không, tồn tại và không tồn tại với Thực thể Tuyệt đối này, bằng cách đẩy cao nó lên một và nhiều bình diện mới; đẩy nó sang một và nhiều Hệ quy chiếu khác.

Hermes Trismegistus có Con đường khác, có chủ trương khác, điều này tôi xin chia xẻ trong một dịp khác; đã trao truyền một khía cạnh, một góc nhìn, một mặt, một hình thức về Thượng đế, về Thực thể Tuyệt đối. Ông ấy không thể đưa ra định nghĩa, ông ấy cũng không thể đưa ra khái niệm, ông ấy chỉ nói về một khía cạnh, về một góc nhìn, về một hình thức,… mà thôi.

Ông ấy nói rằng Thượng đế, Thực thể Tuyệt đối này là một Thực thể Năng lượng Siêu phàm; có Dao động Tối thượng Thanh Cao; có Tần số Linh thiêng, Tần số Dao động Tối thượng, Tần số Dao động Vô cùng lớn, có hàng tỷ, tỷ… lần dao động trong một ksana. Thực thể Năng lượng Siêu phàm này phải là Dao động Tối thượng Thanh Cao, thứ Dao động Điều hoà và tương ứng có Biên độ Dao động nhỏ nhất. Ý ông ấy là vậy. Thứ Dao động đó phải là Điều hoà, phải hiền hoà, phải không có đột biến, phải không có bước nhẩy, phải không bão tố,…

Vì Thượng đế, làm sao Thượng đế lại có thể nổi giận. Làm sao Thượng đế có thể buồn. Còn các Buddha, Từ bi và Hỷ xả là các Buddha, Buddha là Từ bi và Hỷ xả. Và Christ, Jesus Christ là một Christ; Tình yêu vĩ đại vậy, sao lại không hiền hoà… Hiền hoà, không đột biến, không bão tố,… nó phải là như vậy.
Biên độ dao động không điều hoà, đó là còn sân si. Biên độ càng lớn, sân si càng lớn. Biên độ Dao động có bước nhảy, có đột biến, là còn sân hận… Năng lượng sẽ bị tiêu hao trong các việc phát triển các Biên độ Dao động này; Năng lượng bị tiêu hao là vì tham, sân, si. Năng lượng không được vẹn toàn không phải là Năng lượng Siêu phàm.

Thuợng đế, Như lai, Nirvana, Thực thể Tuyệt đối phải là một Năng lượng Siêu phàm nhất, phải là Dao động Tối thượng Thanh Cao, thứ Dao động Điều hoà và tương ứng có Tần số Tối thượng, Tần số Dao động Vô cùng lớn, có Biên độ Dao động Vô cùng bé. Điều này có thể hiểu.

Điều thứ hai, ông ấy nói về sự phát triển của Tâm thức, về các mức độ phát triển Tâm thức, về mức độ phát triển các Thực tại khác nhau trong Hiện hữu đa chiều này; thông qua mức độ của Dao động, thông qua mức độ các đặc trưng của Dao động, thông qua sự khác nhau của các Tần số Dao động.

Tất cả mọi thứ đều dao động, sự khác nhau về Dao động, sự khác nhau về Tần số Dao động, dường như là quyết định tất cả bản chất của mọi Vật, mọi Người, mọi Thực thể, mọi Tinh thần, mọi Tâm linh, mọi Thực tại và quyết định sự chuyển hoá của mọi thứ…
Sự phát triển của Tâm thức, sự tiến hoá của Linh hồn là hành trình buông bỏ Tâm trí; buông bỏ những lớp vỏ những tấm chăn, buông bỏ những quy tắc, buông bỏ những lề thói, buông bỏ những luân lý, buông bỏ những đạo đức chuẩn mực: những nhân, những nghĩa, những lễ, những trí, những tín, buông bỏ những luật lệ, buông bỏ những giới pháp; buông bỏ càng nhiều Năng lượng của Thực thể không mất đi vào những thứ vô nghĩa đó.

Năng lượng không tiêu hao vào những thứ vớ vẩn của Tâm tri, của lòng tham và những giáo điều; và làm cho Con người, và làm cho Dao động của Cơ thể, Dao động của Tâm thức điều hoà và Tần số Dao động gia tăng. Dao động và Tần số Dao động đã không bi tiêu hao, bị nhiễu, đã không bị dẫn dụ vào những thứ rối loạn. Khi ấy, Tần số Dao động tăng cao, Tình yêu sẽ tràn đầy, Hoa Từ bi sẽ bừng nở và toả hương; Con người sẽ Nhận biết được rõ ràng hơn về Thực tại, về Hiện hữu. Con người đó trưởng thành, Con người đó chuyển sang một Tầm nhìn mới.

Đó chính là đóng góp vĩ đại của Hermes Trísmegistus. Ông ấy đã khám phá ra sự tương đồng giữa Tần số dao động và sự tiến hoá Tâm thức.

3

Trong Tâm linh, trong Siêu hình cái nhẹ thăng lên, cái nặng giáng xuống. Cái nhẹ là thanh cao tươi tắn; cái nặng chậm chạp mệt mỏi. Cái nhẹ nhàng là mùa xuân, khởi sắc, tạo dựng. Cái nặng nề là mùa đông, tàn lụi, u ám. Nhẹ nhàng là ban ngày, là ánh sáng; nặng nề là ban đêm, là bóng tối. Cái nhẹ luôn là năng lượng đi lên, sinh sôi, tươi tắn, tràn đầy.

Cái nặng luôn là năng lượng đi xuống, lụi tàn, u ám, mệt mỏi. Một cái Năng lượng cao, một cái Năng lượng thấp. Năng lương cao thanh thoát, vươn lên. Năng lượng thấp là chậm chạp, chìm xuống. Những Cõi trên, những Không gian bên trên, những Thế giới Thần thánh, những Thế giới của Vô hình Vô sắc, những Thực tại Tinh thần, những Thực tại Tâm linh… luôn là nơi của những Năng lượng cao. Những Thực thể càng nhẹ, có Năng lượng càng cao.

Nơi càng cao, càng trên cao vì thanh nhẹ, sẽ có Năng lượng càng cao. Những thực thể càng nặng, có Năng lượng càng thấp; chúng nặng nề, chúng không thể thăng lên cao; chúng chỉ có thể giáng xuống, xuống những tầng Thực tại tối tăm. Ngàn năm nay, triệu năm nay, tỷ năm nay,… luôn là vậy.

Trên Trái đất này, Con người và mọi vật đều chịu Tương tác Hấp dẫn, đều chịu lực hút của Trái đất. Trong Hệ Mặt trời này, mọi Hành tinh, mọi Ngôi sao đều chịu Tương tác Hấp dẫn. Mặt trời cũng chịu Tương tác Hấp dẫn, chịu sức hút của rất cả các Hành tinh, của tất cả các Ngôi sao.

Trong trường Tương tác Hấp dẫn, vật nặng có năng lượng lớn, càng nặng năng lượng càng lớn; vật nhẹ có năng lượng nhỏ, càng nhẹ năng lượng càng nhỏ. Albert Einstein nói vậy, Isaac Newton nói vậy, Peter Higgs nói vậy; phần lớn Con người trong Thực tại Vật lý này tin vậy. Tin rằng: cái nào càng nặng năng lượng càng lớn, cái nào càng nhẹ năng lượng càng nhỏ.

Thực tại Vật lý này và các Thực tại Tinh thần, các Thực tại Tâm linh đã không thống nhất, không tương đồng ở điểm này? Lý thuyết Tương đối, Tương tác Hấp dẫn và Siêu hình đã không thống nhất, không tương đồng ở điểm này?

Không, Không thể có sự không thống nhất ở đây. Không thể như vậy. Tương đồng là phổ quát cho Hiện hữu đa chiều này. Tương đồng là phổ quát cho tất cả các Thực tại khác nhau. Thực tại Vật lý, Thực tại Tâm trí, các Thực tại Tâm linh; Siêu hình và Vật lý… sẽ là như nhau. Tương đồng là luật của Tự nhiên, luật của Thượng đế. Hiện hữu này, tất cả phải là: cái nhẹ, cái thanh cao, là năng lượng lớn; cái nặng nề, cái thấp kém, năng lượng không thể cao, phải là năng lượng thấp. Tất cả phải là vậy, không thể khác.

4

Lý thuyết Siêu dây đã xác định lại điều này cho Vật lý; xác định lại thói quen tư duy nhầm lẫn, về cái nào càng nặng Năng lượng càng lớn, cái nào càng nhẹ Năng lượng càng nhỏ. Thực sự đó chỉ là sự nhầm lẫn của thói quen tư duy. Bản chất của Hiện hữu không là vậy, bản chất của các Thực tại khác nhau, không là vậy.

Lý thuyết Siêu dây phát hiện ra trong String có Lực Căng. Tất cả các String tạo nên tất cả các hạt, tạo nên các hạt electron, tạo nên các hạt quark,…đều có Lực Căng. Lực Căng có trong tất cả các String có trong Thực tại Vật lý này.

Lực Căng càng lớn, Năng lượng của String càng lớn. Lực Căng tỷ lệ thuận với Năng lượng của String. Điều này dễ hiểu. Một dây đàn có Lực Căng lớn, thì cần phải tốn nhiều Năng lượng để dây đàn có thể rung lên được, có thể phát ra âm thanh được. String cũng vậy.

Trong Lý thuyết Siêu dây, các Nhà Khoa học chứng minh rằng: Lực Căng của String tỷ lệ nghịch với khối lượng. String nào có khối lượng nhỏ Lực Căng sẽ lớn, và ngược lại. Khối lượng liên quan đến Hạt của Chúa, hạt Higgs, hạt graviton, liên quan đến lực hấp dẫn. Lực Hấp dẫn lại vô cùng nhỏ; nhỏ đến hàng ngàn tỷ tỷ tỷ tỷ tỷ lần và nhiều nhiều hơn nữa giá trị của Lực Căng. Lực Căng của String vô cùng lớn, nó có giá trị khổng lồ. Nó chính là Độ căng Planck, nó bằng khoảng ngàn tỷ tỷ tỷ tỷ tấn (39 số 0 sau số 1). String có Lực Căng không có dây nào có thể so sánh được.

Khối lượng của String (vẫn) tỷ lệ thuận với Năng lượng; Albert Einstein, Isaac Newton và Peter Higgs phát biểu rất đúng, không thể sai. Nhưng có sự lệch nhau về giá trị tuyệt đối, về độ lớn. Một cái vô cùng lớn, một cái vô cùng bé. Lực Căng vô cùng lớn. Khối lượng vô cùng bé.

Phần Năng lượng tỷ lệ thuận với Khối lượng, nhỏ vô cùng so với phần Năng lượng tỷ lệ thuận với Lực Căng. Khối lượng String không thể làm tăng trực tiếp, cũng không thể làm giảm trực tiếp Năng lượng của String; nó chỉ có thể ảnh hưởng tới Năng lượng của String qua Lực Căng. Nên: String có Lực Căng lớn, sẽ có khối lượng nhỏ, và Năng lượng sẽ lớn.

Ở một chiều khác, trong Lý thuyết Dao động có một kết quả rất rõ ràng và hiển nhiên: String có Tần số dao động cao, thì Năng lượng lớn. Dao động càng nhanh, Năng lượng càng lớn; dao động càng chậm, Năng lượng càng nhỏ.

Nên: String có Tần số dao động cao, Năng lượng lớn và Khối lượng nhỏ. Đó là một trong những kết luận của Lý thuyết Siêu dây.

Đó chính là sự Tương đồng; Tương đồng trong Hiện hữu đa chiều, Tương đồng giữa các Thực tại khác nhau. Tương đồng giữa Vật lý học hiện đại và Siêu hình. Những Thực thể có Năng lượng cao, có Tần số Dao động cao và Khối lượng nhỏ.

5

Để chuẩn bị tiếp đón Jesus Christ tới trao truyền, St. John the Baptist đã thực hiện phép Sám hối. Sám hối, tảy rửa các tội lỗi để cho dân Jews đựơc thanh sạch Tâm hồn, thanh sạch Cơ thể đón nhận những trao truyền từ một Thiên sứ ở một nơi xa xôi linh thiêng tới Trái đất.

Jesus Christ đã nhận phép Sám hối từ St. John the Baptist. Nhưng Ngài đã sáng tạo vượt lên, Ngài đã đẩy cao hơn một và nhiều mức. Ngài đã sáng tạo ra cái vĩ đại: Linh hồn của Sám hối và Linh hồn của Cầu nguyện. Linh hồn của Sám hối là sự Thành kính. Linh hồn của Cầu nguyện là Tình yêu và Lòng biết ơn.

Sám hối. Khi cả bản thể của người sám hối nói lên sự thống hối; khi từng thớ thịt, khi từng tế bào, khi từng String rung lên vì hối lỗi; người đó đã ăn năn, người đó đã xám hối; thì bỗng nhiên có sự chuyển hoá. Người đó đã cảm nhận được chiều vô tận của Nội tâm; người đó được Tha thứ. Đó chính là Thiền. Người hối lỗi, người sám hối với tất cả sự thành tâm, đức tin lớn lao; người đó đã hợp nhất, hợp nhất Cơ thể, hợp nhất Linh hồn với nhau. Người đó chuyển hoá. Đó chính là Thiền.

Người cầu nguyện với tất cả sự thành kính; thành kính trong từng giây phút, trong từng khoẳng khắc; thành kính với tất cả bản thể của mình, từng hơi thở, từng thớ thịt, từng mạch máu, từng tế bào, từng String hoặc cái vi tế hơn cả String; và rồi Tình yêu khơi mở, Tình yêu bùng nổ, Tình yêu thăng hoa;
Người đó cảm thấy biết ơn, biết ơn Thượng đế vì sự Tồn tại này; vậy thì Người đó thực sự chuyển hoá. Đó sẽ không còn là sự chuyển hoá bình thường, đó không chỉ là sự hợp nhất Cơ thể, hợp nhất Linh hồn với nhau; mà là sự Hợp nhất Tối thượng, hợp nhất Thân thể Linh hồn với cả Vũ trụ, với cả Thiên nhiên, với cả Thượng đế. Đó chính là đỉnh cao của Thiền.

Trong Buddhism, Tịnh độ tông (Pure Land Buddhism), Mật tông (Mikkyo) đều có chung một phương tiện: Niệm. Niệm về bản chất cũng là Thiền, không khác nhau. Tịnh độ tông là niệm Adida Buddha, niệm Hồng danh các Buddha, là phương tiện để tập trung tư tưởng, tập trung tinh thần.

Mật tông, người ta sử dụng thần chú (mantra), mật ngữ của các Buddha (Dharani) để đạt tới trạng thái Hợp nhất. Người ta phối hợp lời nói (chú), cử chỉ (ấn quyết) và suy nghĩ (samadhi) để Cơ thể, Âm thanh và Tâm trí được thanh tịnh; để không còn xáo động; để được Hoà đồng. Theo người Tibet, linh hồn của thần chú là âm điệu; thứ là ngôn ngữ của Buddha với Buddha, vô cùng linh thiêng, chỉ có các Buddha mới hiểu. Mật ngữ nguyên gốc là tiếng Sanskrit, không thể dịch được. Không (nên) dịch sang ngôn ngữ khác được.

Mantra hay Hồng danh các Buddha, hay Hồng danh Adida Buddha, được niệm lên với tất cả sự thành kính, được niệm lên nhiều lần, được niệm lên qua năm tháng. Ngữ điệu, âm thanh,… là những Dao động; Tần số là thông số đặc trưng của dao động. Dao động đó, Tần số đó phải chăng là Dao động Linh thiêng, Tần sô Linh thiêng! Là cái mà Gautama Buddha, Adida Buddha đã để lại cho Con người. Khi con người thành kính, niệm nhiều lần, Tần số Linh thiêng này, như một nguồn cưỡng bức điều hoà, nó dẫn dụ, nó lôi cuốn, nó thúc đẩy, nó chuyển hoá, làm cho Tần số của các String tạo nên Cơ thể, Tần số của các String tạo nên Tâm trí, Tâm thức gia tăng và hoà nhập cùng Tần số Linh thiêng, Tần số Tối thượng, thứ Tần số Vô cùng lớn của Dao động Điều hoà và Biên độ Dao động có giá trị Vô cùng bé.

Thiền là phương tiện cơ bản, cơ bản nhất trong hành trình phát triển Tâm thức, trong hành trình Linh hồn sáng tạo và tìm lại chính mình. Sám hối, Cầu nguyện, Niệm,… hình thức khác nhau, nhưng cùng chung bản chất với Thiền. Cùng chung một mục tiêu đó là sự hợp nhất giữa Thân thể, cùng Tâm trí, cùng Tâm thức, cùng Linh hồn với Vũ trụ, với Thiên nhiên, với Thượng đế; sự Hợp nhất Tối thượng. Cứu cánh này với phương tiện cơ bản này, ở một khía cạnh, ở một góc nhìn, ở một mặt, ở một hình thức,… nó tương đồng với cơ chế nâng cao Tần số dao động của các String tạo nên Cơ thể, nâng cao Tần số dao động của các String tạo nên Tâm thức, để tương đồng với thứ Tần số cao nhất, thứ Tần số Tối thượng.

6

Xin nhắc tới hai hiện tượng phổ biến trong Cơ học, trong Lý thuyết Dao động, hiện tượng Cộng hưởng và hiện tượng Mỏi.

Trong Lý thuyết Dao động, hiện tượng Cộng hưởng xảy ra trong dao động cưỡng bức; khi một vật dao động được kích thích bởi một ngoại lực tuần hoàn có cùng Tần số với Tần số Dao động riêng của nó; vậy thì Cộng hưởng xảy ra. Khi Cộng hưởng thì Năng lượng của vật dao động được gia tăng khủng khiếp, biên độ dao động đạt giá trị cực đại; đó là Mạch động, nó sẽ bùng nổ, nó sẽ phá huỷ. Một cây cầu, được thiết kế cho hàng trăm cái xe tải 30-40t nối đuôi nhau đi qua, có hệ số an toàn rất cao.

Cây cầu này không thể đổ sập với hàng trăm cái xe tải đó. Nhưng cây cầu này có thể đổ sập, khi chỉ một đoàn người đi đều bước trên cầu, nếu Tần số của nhịp bước chân đoàn người trùng với Tần số dao động riêng của cầu. Cây cầu bền vững đó đổ sập, đó là hiện tượng Cộng hưởng, Năng lượng đã bùng nổ. Hiện tượng này phổ biến trong rất nhiều ngành khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

Trong Kết cấu Công trình, một cái dầm cầu, chịu tải được hàng ngàn tấn, không sao. Nhưng chỉ một tải trọng vài trăm kg, tác động theo một chu kỳ nhất định, với tần số cực cao và không đổi, trong một thời gian dài, cái dầm cầu sẽ gẫy. Đó là hiện tượng Mỏi.
 
Cây cầu đã mỏi, mỏi với thứ tải trọng không lớn, nhưng lặp đi lặp lại nhiều lần. Lý thuyết nghiên cứu về hiện tượng này gọi là Lý thuyết Biến dạng mỏi, một chuyên ngành khoa học khá phức tạp. Các nhà khoa học có thể mô tả quá trình diễn biến của nó, tính toán dự báo hiện tượng này một cách gần đúng.

Bản chất của nó các nhà khoa học chưa nắm rõ. Cấu trúc phân tử khi bị mỏi sẽ như thế nào, các nhà khoa học chưa thể mô tả được. Giữa của Thế kỷ trước, Liên xô và các nước Đông Âu có nhiều luận án Tiến sỹ và Phó tiến sỹ trong lĩnh vực này. Nhưng chỉ loanh quanh về việc mô tả quan hệ giữa ứng xuất và biến dạng theo thời gian. Chưa có kết quả gì lớn lao để có thể hiểu rõ bản chất cấu trúc Phân tử, cấu trúc Nguyên tử của nó.

Nhưng từ Lý thuyết Siêu dây, tôi tin rằng có thể tìm ra lời giải, cho bản chất của vấn đề. Dưới tác dụng của một tải trọng không lớn, cất tải và hạ tải với một tần số rất cao (nhanh), trong một thời gian đủ dài, các String cơ bản tạo nên vật liệu của dầm cầu đó, sẽ bị “Mỏi theo” và Tần số của nó hoà nhập về cùng Tần số của tải trọng; Cộng hưởng đã xảy ra.

Vâng, phải chăng là vậy? Khi Tần số dao động của các String tạo nên Cơ thể, Tần số dao động của các String tạo nên Cơ thể Tâm thức được dẫn dụ, được hoà đồng, được khuyến khích, được thúc đẩy, được nâng cao, nâng cao tới Vô cùng, hàng tỷ, tỷ,… lần trong một ksana; và rồi: Tâm trí cùng mọi vọng gác, mọi hàng rào, mọi tường ngăn, mọi lớp vỏ, mọi lớp chăn phủ… cùng lúc sụp đổ, cùng lúc biến mất; và rồi:
Năng lượng Tình yêu bao la, ngập tràn, Hương Từ bi phủ khắp không gian Vũ trụ; và rồi: Trực giác và Tiềm thức siêu việt, vậy thì, vậy thì Con người đó Hợp nhất với Tần số Tối thượng, Hợp nhất với Thượng đế. Sự Cộng hưởng Vĩ Đại xuất hiện, Sự Hợp nhất Tối thượng xảy ra: Chứng Ngộ?

Thiền, Sám hối, Cầu nguyện, Niệm,… là những phương tiện để đưa Con người tới Cứu cánh đó.

7

Hermes Trismegistus còn là Thrice Great – Bộ ba vĩ đại, vì tinh thông cả ba: Thuật giả kim, Chiêm tinh học và Thần bí học, nên ông ấy đã nhìn thấy hình ảnh của Thượng đế, hình ảnh của Chứng ngộ, sự phát triển của Tâm thức qua các Dao động và qua các Tần số Dao động. Đó là khám phá của ông ấy.

Thượng đế, Thực thể Tuyệt đối có đối Dao động Tối thượng, có Tần số Dao động Vô cùng lớn, có Năng lượng Siêu việt. Nhưng Thượng đế, Thực thể Tuyệt đối không chỉ là Dao động Tối thượng, không chỉ có Tần số Dao động Vô cùng lớn, không chỉ có Năng lượng Siêu việt; mà Siêu việt hơn rất, rất nhiều những điều đó. Tần số, Dao động, Năng lượng chỉ là một khía cạnh, một góc nhìn, một mặt, một hình thức,… trong muôn triệu những biểu lộ của Ngài.

Hành trình phát triển của Tâm thức và hành trình hoàn thiện và sáng tạo Linh hồn cũng vậy; không chỉ có Dao động và Tần số; không chỉ có đơn giản sự gia tăng Tần số Dao động; không chỉ là những phép thần thông quyền năng bí nhiệm; nó đẹp hơn, lung linh hơn, huyền bí hơn và cũng khó khăn gian khổ nhiều hơn.

Cũng vậy, sự Chứng ngộ là Cộng hưởng Tần số Dao động riêng với Tần số Tối thượng. Nhưng không chỉ vậy, sự Chứng ngộ linh thiêng hơn thế nhiều. Đó là Tâm trí và cùng mọi vọng gác, mọi hàng rào, mọi tường ngăn, mọi lớp vỏ, mọi lớp chăn phủ… cùng lúc sụp đổ, cùng lúc biến mất; Trực giác và Tiềm thức bừng mở, Nhận biết Siêu việt lên; Năng lượng Tình yêu bao la, ngập tràn, Hương Từ bi phủ khắp không gian Vũ trụ; Cơ thể, Tâm thức và Linh hồn Hợp nhất với Vũ trụ, Hợp nhất với Thượng đế. Đó phải chăng là Chứng ngộ?

Người Tìm kiếm Triều Nguyên Trần, một người bạn của tôi, có chia xẻ với tôi rằng:

Lời dạy Hermetic nói là: “Khi một vật thể đạt đến một độ rung động nhất định nào đó, những phân tử của chúng sẽ phân tán và tan rã ra, trở về lại những nguyên tố hay nguyên tử nguyên thủy. Những nguyên tử, theo Nguyên lý Rung động, sẽ bị phân ra thành các hạt mà đã tạo ra chúng. Và cuối cùng, ngay cả hạt cũng biến mất và vật thể ấy được ví như đã hình thành từ Ethereal Substance… Nên ghi nhớ, trong ví dụ minh họa trên, tất cả những giai đoạn khi mà vật thể phát ra những rung động của ánh sáng, nhiệt năng,…

nó không phải thật sự chuyển thành những dạng năng lượng đó, mà đơn giản nó chỉ đạt đến một mức độ rung động mà tất cả những dạng năng lượng đó được phóng thích ra khỏi những sự ảnh hưởng kềm kẹp bởi những phân tử, nguyên tử và hạt của nó. Những dạng năng lượng này, mặc dù rất cao trên nấc thang so với vật chất, đã bị giam hãm và kềm kẹp trong sự kết cấu của vật chất, vì lý do tất cả năng lượng hiển thị và xử dụng xuyên qua những dạng vật chất, chúng bị vướng vào và bị giam hãm trong dạng vật chất ấy, điều này trong một giới hạn nào đó, đúng cho tất cả, lực sáng tạo bị cuộn vào, mắc víu với vật chính nó sáng tạo
.”

Vậy có phải khi Cộng hưởng Tối thượng xảy ra, thì đó là khi những sự kềm kẹp, giam hãm Linh hồn ở trong thể xác, trong đám mây mù của Tâm trí sẽ từ từ dãn ra và phân rã; tùy theo mức độ phân rã mà Ánh sáng tinh túy ấy, Linh hồn được phóng thích, hào quang được phát tích, tỏa rạng. Một sự chứng ngộ tuyệt đối có lẽ là sự phóng thích toàn diện cái Ánh sáng tinh túy ấy, hòa nhập với Bản thể Tối thượng?”

Vâng, có thể là vậy. Bất kể sự Cộng hưởng nào, vật bị cưỡng bức cũng bùng nổ và phát tích năng lượng trong nội tại của nó ra. Dầm cầu Cộng hưởng với nguồn cưỡng bức, năng lượng trong nội tại của nó bùng nổ và sự phá huỷ tức thì xảy ra. Sự Chứng ngộ, là Cộng hưởng Tối thượng thì Năng lượng phát tích và bùng nổ sẽ lớn khủng khiếp vô cùng. Luận sư Osho và kinh điển Buddhism cũng có nói về điều này. Khi một Buddha xuất hiện, một Christ xuất hiện, không chỉ Trái đất, Hệ Mặt trời mà cả Vũ trụ cũng tương tác, hân hoan, rộn ràng hơn trong vòng quay của Thượng đế. Thứ Năng lượng bùng nổ phát tích từ một Buddha, từ một Christ khi Chứng ngộ, đã tác động tới Trái đất, tới Hệ Mặt trời, tới Vũ trụ, chỉ có thể đó là Linh hồn.

Chứng ngộ là sự Sáng tạo cuối cùng trong hành tình sáng tạo và hoàn thiện của Linh hồn về với Linh hồn Tối thượng. Có phải chăng là vậy?

Phần 3: Tất cả là Tâm, Luần hồi, Tái sinh, Phục sinh.

Tất cả là Tâm”. Nếu có nhiều kiếp sống, vội gì ăn năn; con người có thể khất lần, có thể chờ, có thể trì hoãn. Cho nên để tránh sự trì hoãn này Jesus Christ và St. John the Baptist đã dạy phải Sám hối. Vì chẳng còn nhiều thời giờ, đừng trì hoãn, đừng khất lần, đừng chờ đợi, không còn thời gian và sẽ chẳng kịp giờ khi Thượng đế gọi về. Không biết tới Luân hồi và những kiếp sống khác. Điều đó mang lại cho Sám hối, cho Cầu nguyện một cường độ rất mạnh.

Jesus Christ đã sáng tạo ra điều này, vì hơn ai hết Ngài đã biết rằng: “Tất cả là Tâm”.
1

Hermes Trísmegistus đã dùng Dao động và Tần số để mô tả Vũ trụ, Thiên nhiên, Con người, Thần thánh và Tinh thần đó là đóng góp vĩ đại của ông ấy cho Nhận biết của Nhân loại. Nhưng, vĩ đại hơn và Nhận biết hơn, ông ấy đã nói về nguyên lý đầu tiên, trước nguyên lý Dao động, hơn tất cả mọi nguyên lý khác, là:

“Tất cả là Tâm”.

Đấy là cái quan trọng nhất trong Học thuyết của ông ấy. Đấy là nguyên lý gốc của mọi nguyên lý. Cần phải hiểu biết rằng, tất cả các nguyên lý khác trong Hermeticism, có nguyên lý gốc này trong nó; và cũng cần phải hiểu rằng, nguyên lý gốc này bao trùm lên tất cả các nguyên lý khác.

Tất cả là Tâm”.

Hermes Trismegistus đã trao truyền cho các đệ tử của Hermeticism, điều đầu tiên là như vậy. Và đó là điều cơ bản nhất, cơ bản trong toàn bộ Học thuyết và Giáo lý của ông. Điều này là tương đồng, tương đồng với Buddhism; tương đồng với quan điểm của các đệ tử Gautama Buddha và của Gautama Buddha.

Tương đồng với quan điểm của Nagarjuna Bodhisattva và của những Aryadeva – Thánh Thiên, Buddhapalita – Phật Hộ, Bhavaviveka – Thanh Biện, Candrakirti – Nguyệt Xứng, Santideva – Tịch Thiên và Kamalasila – Liên Hoa Giới,…. những vị Đạo sư xuất chúng; những con người đã tạo dựng lên con đường Madhyamika – Trung quán.

Cũng vậy, cũng tương đồng với quan điểm của Maitreyanatha Bodhisattva và của những Vasubandhu – Thế Thân, Asanga – Vô Trước, Sthiramati – An Huệ, Dharmapala – Pháp Hộ va Difnaga – Trần Na,… những vị Đạo sư xuất chúng; những con người đã tạo dựng lên con đường Vajinanaptivada – Duy thức.

Hermeticism, Buddhism: Madhyamika và Vạjinanaptivada đã giống nhau ở cùng một điểm: “Tất cả là Tâm”.

2

Tất cả là Tâm“.

Có phải chăng, Thực tại này là ảo ảnh, maya? Thực tại này không thật? Thực tại này là Không?

Tôi đã từng hỏi: “Thưa các Lama, thưa các Ripoche, các vị đã tái sinh qua nhiều kiếp Luân hồi và ngay hiện thời có nhiều vị đang sống, chắc các vị vẫn còn nhớ tới dãy Himalayas quanh năm tuyết phủ, chắc các vị hãy còn nhớ dòng sông Mekong ngàn năm gợn sóng; mà khi sống ở các kiếp trước các vị đã từng chiêm ngưỡng, đã từng trèo núi và đã từng tắm sông. Làm sao, làm sao giả hữu được? Làm sao phá chấp được? Làm sao có thể nói Himalayas, sông Mekong và sông Gaina… là Không, là ảo ảnh?” Tôi đã từng hỏi như vậy, đã từng hỏi như một công án, đã từng với tôi, với người.

Dường như không hẳn là vậy. Nhưng Thực tại này thực sự đầy ảo ảnh.

Tâm trí, suy nghĩ, cảm xúc và những rào cản: những quy tắc, những lề thói, những luân lý, những luật lệ, những giới pháp, những quy tắc xã hội, những đạo đức, những nhân, những nghĩa, những lễ, những trí, những tín, những lề thói, những ràng buộc của thế giới bên ngoài, hiểu trong nghĩa là thế giới của các giác quan đã tạo nên những đồng nhất lầm lẫn; lầm lẫn đồng nhất Bản thể mình vào những cái không phải.

Con người đã lầm lẫn đồng nhất Bản thể mình vào những cái đó; lầm lẫn tưởng rằng đó là Thực tại, là Hiện hữu. Con người biết Tâm trí mà không biết tới Bản thể của mình. Con người đã không đối diện với Hiện hữu.
Cái con người nhìn thấy, cái con người cảm thấy, cái con người học hỏi, cái để con người sống, cái để con người chết, và cả cái ước mơ, cái mong muốn, cái chống lại, cái căm ghét,… những lý tưởng, những thứ chủ nghĩa, những tinh thần tôn giáo; tất cả đều là những sự tưởng tượng riêng của từng con người; cùng lắm là giấc mộng tập thể của thời đại, của giai cấp, của cộng đồng. Sự tưởng tượng chỉ liên quan tới vài ba yếu tố. Cơ bản là con người mơ màng trong giấc mơ ảo ảnh, của vật chất, của sự thành đạt, của pháp luật, của giáo lý, của đạo đức… những thứ không thật đã tạo nên Thực tại này.

Tất cả những ảo ảnh này đã gò bó, đã vây hãm, đã cố kết con người trong những tường vây, trong những hàng rào, trong nhưng luật lệ, lề thói, pháp quy, đạo đức và giáo lý;… con người tự cầm tù bản thân và cầm tù người khác. Con người đó là con người Phụ thuộc; phụ thuộc vào Tâm trí, phụ thuộc vào ảo ảnh do chính con người tạo nên. Trạng thái này là trạng thái Đồng nhất lầm lẫn, trạng thái Phụ thuộc; Vajinanaptivada gọi trạng thái này là parikalpita-svabhāva.

3

Tất cả là Tâm“. Dù Hermeticism dạy về Rung động; Hermes Trismegistus có lý do của ông ấy. Thực sự ông ấy đã luôn trao truyền để các đệ tử của mình phát triển Tâm thức. Tần số Dao động của Cơ thể càng cao, Tần số Dao động của Tâm thức càng cao; thì đó là Con người tiến hoá. Hành trình tiến hoá Tâm thức kéo theo sự phát triển Tần số Dao động của Cơ thể, Tần số Dao động của Tâm thức.

Trong Buddhism, hành trinh đi vào sâu sa Prajnaparamita của các đệ tử Buddhism cũng vậy, cũng là hành trình phát triển Tâm thức. Càng đi sâu vào, càng lên cao, càng không bị vướng mắc vào những Tần số Dao động thấp, Con người đó vượt lên, Con người đó thay đổi tầm nhìn, Con người đó vươn lên những tầm cao mới, những Thực tại cao hơn.

Với Tư duy, suy nghĩ và năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và cơ thể; về cơ bản Con người đang trong trạng thái parikalpita-svabhāva, trạng thái Đồng nhất lầm lẫn, đồng nhất Bản thể của mình, đồng nhất Thực tại, đồng nhất Hiện hữu vào những cái không phải, không đúng, không thực. Trong hành trình phát triển Tâm thức, Con người tiến hoá là khi Con người đó buông bỏ được Tâm trí; đồng thời là khi Trực giác, Tiềm thức khởi mở; đồng thời là khi Trí tuệ Con người đó siêu việt lên; đồng thời là khi Năng lượng Tình yêu tràn đầy.

Khi Con người đi sâu vào hành trình phát triển Tâm thức, vào càng sâu, thì Trực giác, Tiềm thức càng được khởi mở; thì Trí tuệ càng được siêu việt; những Tần số Dao động dần được nâng cao; Con người tiến tới là Con người Mở. Theo Vajinanaptivada, Duy thức tông, hai vijnana: Alayavijnana và Manasvijnana, là hai Alaida thức và Matna thức sẽ mở ra. Con người sẽ hoà vào Bầu trời mở. Từ trạng thái parikalpita-svabhāva, trạng thái Đồng nhất lầm lẫn, trạng thái Phụ thuộc Con người đó bước sang trạng thái paratantra-svabhāva, trạng thái Tương đồng, Liên thuộc.

Con người đó hiểu được rằng: Sự sống đẹp đẽ, linh thiêng là vì tính toàn bộ của hai mặt đối lập. Đẹp và xấu, thiện và ác, có và không, khó và dễ, dài và ngắn, cao và thấp,… tất cả đều cùng tồn tại; cùng sinh ra, cùng lớn lên, cùng tàn lụi; hai mặt đối lập bù cho nhau; hai mặt đối lập tạo nên sự hài hoà. Cuộc sống và Thực tại không thể có chỉ có tốt, không thể có chỉ có thiện,… Cuộc sống, Hiện hữu không chỉ có những đỉnh núi; có cả những thung lũng. Đỉnh núi lộng gió và ngập tràn ánh nắng; thung lũng tĩnh lặng và âm u.

Thung lũng làm cho đỉnh núi cao hơn, hùng vĩ hơn. Đỉnh núi là cho thung lũng sâu thẳm hơn, huyền bí hơn. Hai cái đối lập tạo nên sự giàu có, phong phú, sinh động. Nhưng không chỉ có đỉnh núi và thung lũng; cuộc sống là nhiều chiều, còn có cao nguyên, còn có đồng bằng, còn có những dòng sông,… Và có đỉnh núi cùng thung lũng, vạn vật và cảnh sắc lung linh hơn. Thung lũng và đỉnh núi làm cho bình nguyên phóng khoáng và bạt ngàn hơn.

Thung lũng và đỉnh núi làm cho đồng bằng bình yên và giàu có hơn. Những dòng sông, những bình nguyên, những đồng bằng,… cũng làm cho đỉnh núi và thung lũng sống động hơn. Đó chính là tính Tương đồng, Liên thuộc nhiều chiều của cuộc sống. Lao Tzu đã nói về điều này, Ông già cưỡi trâu xanh ấy đã nói trong Tao Te Ching, đó là Tao. Tao mà Lao Tzu nói là vậy. Tao mà Lao Tzu nói tới là tính toàn bộ, là tính Tương đồng, Liên thuộc; lẽ tự nhiên của Vũ trụ, lẽ tự nhiên của trời đất, lẽ tự nhiên của cuộc đời.

Ở Chiều kích này, ở Thực tại này, khi Tần số Dao động nâng cao, cũng là khi sẽ cởi bỏ ít nhiều những lớp vỏ về cái tôi cá nhân. Cái tôi cá nhân ít nhiều được phá bỏ, là khi con người giảm bớt phụ thuộc vào vật chất và những thứ giả tạo; giảm bớt sự đồng nhất bản thể vào những thứ lầm lẫn.
Con người sẽ tỉnh táo hơn khi nhận biết về bản thân. Khi giảm bớt sự lầm lẫn đồng nhất Bản thể của mình vào những thứ giả dối, những ràng buộc của thế giới bên ngoài; con người sẽ bớt kiêu ngạo, ích kỷ; con người sẽ bớt sợ hãi, lo lắng; con người sẽ bớt thù hận và bạo hành. Con người sẽ tỉnh táo hơn khi nhận biết về tự nhiên, về xung quanh, về cây cối, về môi trường, về Trái đất và Bầu trời; con người sẽ nhận biết hơn về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên.

Con người sẽ thấy bầu trời xanh hơn, tiếng chim hót cao hơn, đỉnh Himalaya hùng vĩ huyền bí hơn và tuyết phủ trắng hơn, dòng sông Ganga mềm mại và linh thiêng hơn. Con người sẽ tỉnh táo hơn khi nhận biết mọi người, về tha nhân, về vợ, về chồng, về anh em, về bạn bè, về những người không thân thuộc và về kẻ thù; con người sẽ nhận biết hơn về mối quan hệ giữa con người với xã hội. Con người sẽ thấy yêu thương nhiều hơn, hạnh phúc nhiều hơn; lễ hội trong gia đình và lễ hội ngoài cộng đồng; lễ hội trong cuộc sống và lễ hội ở trong lòng. Cuộc sống là âm nhạc và thơ ca; mọi khoảng khắc đều có thể là lễ hội.

4

Tất cả là Tâm“. Vào càng sâu, trong hành trình phát triển Tâm thức, Con người càng mở. Alayavijnana mở tiếp và Manasvijnana mở tiếp; từ trạng thái paratantra-svabhāva, trạng thái Tương đồng, Liên thuộc, Con người bước sang trạng thái pảrinispanna-svabhāva, trạng thái Độc lập. Con người khi đó là Con người Độc lập.

Trong một chiều kích, trong một góc độ, trong một phương diện,… Tần số Dao động của Cơ thể, Tần số Dao động của Tâm thức Con người đó đã tăng lên rất cao, đã đạt đến Tần số Tối thượng.

Con người Độc lập là Con người thấy được các tầng Thực tại khác nhau, thấy được Hiện hữu; thấy được tất cả vật, người, các Thực thể, các Suy nghĩ, Tâm trí, Tâm thức, Tinh thần,… tất cả, tất cả đều là Hiện hữu? Thấy Trái đất, Con người, các Vì sao,… tất cả không tách rời, tất cả giao hoà với nhau, tất cả đều hoan hỷ trong nhịp điệu của Vũ trụ, tất cả đều rộn ràng trong Tình yêu của Thượng đế.

Tình yêu ngập đầy, Hoan hỷ tràn trề, Từ bi ngào ngạt và dạt dào. Toàn thể Vũ trụ trở thành một mạng Tâm thức, hàng triệu và hàng triệu Tâm thức, chói sáng, rực sáng từ bên trong, mọi bộ phận, mọi yếu tố, mọi nguyên tử, mọi tế bào, mọi hạt cơ bản, mọi String, mọi thứ cơ bản hơn String, mọi thứ vi tế hơn String đều rực sáng?

Con người đó đã thấy được Chân lý. Con người đó đã Hoà nhập Tối thượng cùng Vũ trụ, cùng Thiên nhiên, Cùng Thượng đế.

5

Tất cả là Tâm“. Đó không phải một khái niệm, không phải một định nghĩa về một cái cố định; nó khái quát cả một quá trình. Ngoài sự lầm lẫn đồng hoá trong Thực tại Vật lý này, còn một chiều kích khác nữa, còn một tầng sâu khác nữa; đó chính là sự phát triển của Tâm mà tầm nhìn của Con người thay đổi. Chính sự phát triển và tiến hoá của Tâm mà con ngươi chuyển hoá từ trạng thái này, sang trạng thái kia; từ Trạng thái Phụ thuộc, qua Trạng thái Liên thuộc, siêu việt lên Trạng thái Độc lập; và Hiện hữu này đã thay đổi và biểu hiện qua những Thực tại khác nhau.

Sự phát triển Tâm thức, sự tiến hoá của Linh hồn là thể hiện qua tầm nhìn với Hiện hữu; qua chiều kích qua các tầng lớp của các Thực tại. Hiện hữu đa chiều, Hiện hữu có nhiều Thực tại chồng lớp lên nhau.
Thực tại Vật lý là một trong những Thực tại thấp. Tâm thay đổi, Tâm thức phát triển, Linh hồn tiến hoá Con người sẽ chuyển hoá; tầm nhìn của họ thay đổi, từ Hệ quy chiếu giản đơn họ bước sang Hệ quy chiếu cao hơn; từ Thực tại thấp, họ kết nối lên các Thực tại cao. Từ Thực tại Vật lý, họ chuyển hoá, họ bước vào các Thực tại Tinh thần, rồi họ Siêu việt lên các Thực tại Tâm linh; rồi họ hoà mình vào Vũ trụ, họ hợp nhất với Thượng đế.

Đó là cả hành trình qua từng kiếp đời và qua nhiều kiếp đời. Mỗi một kiếp đời, là những trải nghiệm, với những bài học khác nhau; để cho Linh hồn sáng tạo và hoàn thiện chính mình. Mỗi kiếp đời là một hay nhiều bước tiến, cũng có thể là một hay nhiều bước lùi. Tiến, nếu người đó nhận biết ra được những bài học; lùi, nếu cả một kiếp đời người đó mù quáng, tăm tối cùng những hành động vô thức, vô minh trôi theo dòng đời và Tâm trí.

Hành trình gian nan, vất vả và dài lâu. Hành trình trải qua nhiều kiếp đời. Hành trình có ba cấp độ, là ba trạng thái, qua ba Thực tại khác nhau. Cấp đầu tiên đó là Trạng thái Phụ thuộc, trạng thái Đồng nhất lầm lẫn, các nhà Vajinanaptivada gọi là parikalpita-svabhāva; tương ứng là Thực tại Vật lý bất toàn. Cấp thứ hai Trạng thái Tương đồng, Liên thuộc các nhà Vajinanaptivada gọi là paratantra-svabhāva; tương ứng là các Thực tại Tinh thần. Và cấp thứ ba là Trạng thái Độc lập, các nhà Vajinanaptivada gọi là pảrinispanna-svabhāva, tương ứng là các Thực tại Tâm linh. Con người sẽ từ Phụ thuộc, vượt qua Liên thuộc và siêu việt lên Độc lập

Prajnaparamita là hành trình như vậy, cái ở Bờ bên kia chính là Thực tại tối hậu, Nirvana, Thiên đường. “Tất cả là Tâm”. Tâm trí, Tâm thức quyết định Thực tại của Con người; buông bỏ Tâm trí, phát triển Tâm thức nâng Con người vượt lên các Thực tại khác nhau. Con người chuyển hoá từ Thực tại Vật lý lên cao hơn, tới các Thực tại Tinh thần, siêu việt lên các Thực tại Tâm linh; Tâm thức phát triển và Con người sẽ tiếp cận dần tới Hiện hữu, đưa Con người tới Nirvana, tới Thiên đường, hợp nhất với Thượng đế.

6

“Tất cả là Tâm“. Khi con người chưa phải là Con người Liên thuộc, chưa phải là Con người Độc lập, Con người đó còn Tâm trí, còn Bản ngã; Con người đó chết đi, Con người đó sẽ Luần hồi, tái kiếp.

Kinh điển Buddhism có ghi lại câu chuyện sau: Bậc thánh tăng Nagasena đã giải thích cho vua Milinda trong một loạt những giải đáp nghi vấn mà nhà vua đã hỏi ông ấy. Vua hỏi Nagasena: “Khi một người nào tái sinh, thì anh ta là một với người vừa chết, hay khác?” Nagasena trả lời: “Không phải một, cũng không phải khác… Nếu một người đốt một ngọn đèn, có thể nó cho ánh sáng suốt đêm không?” “Có thể.” “Ngọn lửa cháy trong canh một, có phải ngọn lửa cháy trong canh hai, canh ba,… canh cuối không?” “Không” “Như vậy có nghĩa là ngọn đèn canh một khác, ngọn đèn canh hai khác,… và ngọn đèn canh cuối cùng khác?”Và Nagasena trả lời tiếp “Không, vì cũng chính ngọn đèn đó cháy suốt cả đêm”.

Ngọn lửa đó không phải là Linh hồn, thứ là Linh hồn sẽ không tái kiếp, thứ là Linh hồn sẽ hoà nhập với Vũ trụ, với Thiên nhiên, với Thượng đế.

Nhưng Ngọn lửa đó là Trí huệ, là Tâm thức với ba chiều chính: Trí tuệ, Tiềm thức, Tâm trí; và còn nhiều, nhiều nữa, nó bao gồm cả cảm xúc, những yêu thương, nuối tiếc, hờn giận, uất ức và cả hận thù; nó bao gồm cả những ước mơ, hi vọng và thất vọng, những khát khao, những ham muốn; nó bao gồm cả những thói quen, tật xấu hay sự tinh tế… nó là tất cả của một kiếp vừa sống và của nhiều kiếp sống trước đó.
Nó là một Chùm, Buddhism gọi là các Chủng tử, bija; ngôn ngữ hiện đại, Osho gọi đó là Chùm ý nghĩ. Với tôi, vì trong đó thực sự có Tâm trí, xin tạm gọi nó là Chùm Tâm thức, nhưng thực sự nó nhiều hơn thế. Chùm Tâm thức, nghe nó đời hơn; dễ nghe hơn bất kể là một nhóm từ thay thế nào, mà phải cõng trên mình những ý nghĩa sâu sa của triết học và tôn giáo.

Hay quay trở lại với Tâm kinh.

Avalokita vị Bodhisattva linh thiêng, đang đi vào hành trình xâu xa của Prajnaparamita, đã vượt ra bên ngoài, nhìn xuống từ trên cao và thấy năm uẩn đều không.”

“Ngài đã thuyết: Này Sariputra! Hình dáng là không, không là hình dáng. Vật chất không khác gì không. Không không khác gì hinh dáng. Dù vật chất là gì, đấy cũng là không; dù không là gì, đấy cũng là hình dáng. Điều này cũng đúng cho quá trình Tâm thức của con người là thọ, tưởng, hành và thức.”

Avalokita đã nói: vật chất, hình dáng là không. Nhưng Avalokita lại nói: dù không là gì, đấy cũng là hình dáng, là vật chất; thọ, tưởng, hành và thức cũng vậy. Avalokita đã nói vậy.

Tương tự, Hermes Trismegistus cũng đã nói về điều này tương tự:

Hermetic dạy rằng tất cả ý nghĩ, cảm xúc, lý trí, ý chí, ước muốn, hay bất cứ trạng thái nào của Tâm, luôn đi kèm theo những sự rung động, một phần được phóng ra và thường ảnh hưởng đến tâm trí người khác bằng sự cảm ứng (induction).”

Khi con người chết một Chùm Tâm thức được thoát ra. Chùm Tâm thức đó, vì còn Tâm trí, vì còn ham muốn, vì còn xúc động và vì còn mọi thứ, mà nó gắn kết cùng các giấc mơ, những hi vọng và những thất vọng; cùng những thói quen khi sống và cả những thói quen của nhiều kiếp sống; khát khao, chùm đó đi vào trong bụng mẹ khác và tái sinh với một thể xác mới.

Có phải chăng, Hermes Trismegistus, Avalokita đã soi thấy Trí huệ, Tâm thức, Trí tuệ, Tiềm thức, Tâm trí, và nhiều thứ không phải là hình dáng, không phải là vật cũng đều được cấu tạo từ các String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn String; cũng đã soi thấy Chùm Tâm thức cũng là chùm các String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn String tạo nên?

Chùm Tâm thức rời bỏ con người khi chết; nó là một chùm các String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn String? Nếu chỉ là String, kích thước nhỏ vô cùng, bằng 10-35m (số 1 đứng sau ba mươi lăm con số 0, sau dấu phẩy); nó dao động, nó có tần số dao động riêng và đặc trưng; nó chuyển động trong không gian. Tần số Dao động của nó, các mode Dao động của nó đã chứa đựng và mô tả tất cả các thông tin của Chùm Tâm thức. Nó chui vào bụng mẹ mới và bắt đầu một kiếp người. Tần số Dao động của nó, các mode Dao động của nó, quyết định một nghiệp mới, một karma của một Kiếp người mới?

Có phải chăng là vậy?

Nhưng một điều tôi tin cậy, Chùm Tâm thức này sẽ không chui vào bụng mẹ mới, khi Tâm trí không còn, khi không còn những khát khao, mong muốn, không còn giận hờn, yêu thương và không còn cả những ước mơ; khi đó Chùm Tâm thức thoát khỏi vòng Luân hồi, bay vào Bầu trời mở. Tôi tin cậy điều này. Vì: “Tất cả là Tâm“.

7

Tất cả là Tâm“.

Jesus Christ biết rõ Luân hồi. Ngài là Thiên sứ, ngài không thể không biết. Trong The Gospel according to St. Matthew, đoạn Kinh 17, 10-13:

Các môn đệ hỏi Ngài rằng: “Vậy sao các Kinh sư lại nói Elia phải đến trước?” Người đáp: “Ông Elia phải đến để chỉnh đốn mọi sự. Nhưng tôi nói cho các ông biết: ông Êlia đã đến rồi mà họ không nhận ra, lại còn xử với ông theo ý họ muốn. Con người cũng sẽ phải đau khổ vì họ như thế”. Bấy giờ các môn đệ hiểu Ngài có ý nói về John the Baptist.”

Và trong một đoạn khác, đoạn Kinh 11,14-15, thì Jesus Christ đã xác nhận:

Và, nếu các ông chịu tin lời tôi, thì ông John the Baptist chính là Elia, người phải đến. Ai có tai nghe thì nghe.

Ngài biết tiền kiếp của St. John the Baptist là Thiên sứ Elia. Nhưng Ngài không nhắc đến Luân hồi, Ngài chỉ nói về 1 kiếp. Jesus Christ đã được St. John the Baptist rửa tội trên sông Jordan. Ngài đã dạy rằng, “Hãy ăn năn vì Nước Trời đã gần đến.” Ngài đến từ rừng núi và mang theo thông điệp đó. Ngài sáng tạo ra Cầu nguyện. Ngài không nhắc đến Luân hồi. Ngài bỏ hẳn ý niệm đó, để đem lại cho Sám hối, Cầu nguyện một sức mạnh tuyệt đối.

Có những Tôn giáo khác, người ta lấy Luân hồi ra làm nỗi sợ để răn đe. Jainism, Kỳ Na giáo dạy các đệ tử của mình phải đền bù, đền bù những tội lỗi đã mắc phải, phải đền bù qua nhiều kiếp sống. Hinduism, Ấn độ giáo thì dạy rằng karma, nghiệp là thứ đã tích luỹ trong quá khứ, trong các kiếp đời đã qua; các đệ tử phải phải làm thật nhiều công đức thì mới mong xoá hết được. Cũng không hẳn là Số học trong đó. Nó đã làm cho số đông con người biết sợ, nó hãm bớt các cuồng si, nó làm cho nhiều người thiện hơn. Nhưng chỉ là vậy, nó không thể làm con người có bước nhảy Tâm thức, nó không thể có những chuyển hoá cao hơn.

Nhân bản, với vô vàn yêu thương, Jesus Christ nói: “Chỉ cần Sám hối thì tất cả đều được rửa sạch.” Đó thực sự là sáng tạo vĩ đại, vĩ đại trong các vĩ đại. Điều đó làm Con đường của Jesus Christ khác biệt hẳn với các Con đường của các vị Đạo sư khác.

Tất cả là Tâm“. Nếu có nhiều kiếp sống, vội gì ăn năn; con người có thể khất lần, có thể chờ, có thể trì hoãn. Cho nên để tránh sự trì hoãn này Jesus Christ và St. John the Baptist đã dạy phải Sám hối, dạy phải  Cầu nguyện. Vì chẳng còn nhiều thời giờ, đừng trì hoãn, đừng khất lần, đùng chờ đợi, không còn thời gian và sẽ chẳng kịp giờ khi Thượng đế gọi về. Không biết tới Luân hồi và những kiếp sống khác. Điều đó mang lại cho Sám hối, cho Cầu nguyện một cường độ rất mạnh.

Khi cả bản thể của Con người nói lên sự thống hối, khi từng tế bào, từng String, từng cái cơ bản hơn String, từng cái vi tế hơn String rung lên vì hối lỗi, thì bỗng nhiên có sự chuyển hoá. Quá khứ biến mất; tương lai, sự phóng chiếu về tương lai từ quá khứ cũng biến mất theo; con người bị đẩy ngược về ngay tại đây và ngay lúc này.

Người đó không còn ham muốn, không còn khát khao; người đó không còn những giận hờn, oán trách; người đó không còn vương vấn; Tâm trí người đó rũ sạch. Người đó đi vào chiều sâu vô tận của nội tâm. Người đó đối diện với Bản thể của mình. Và Cầu nguyện cũng vậy. Người cầu nguyện với tất cả sự khẩn thiết và thành kính với Tình yêu và sự biết ơn, trong từng giây phút, trong từng ksana; với từng hơi thở, từng thớ thịt, từng mạch máu, từng tế bào, từng String hoặc từng cái cơ bản hơn String cái vi tế hơn cả String; vậy thì Bản thể của người đó thăng hoa và Hợp nhất với Vũ trụ, với Thiên nhiên, với Thượng đế.

Jesus Christ đã sáng tạo ra điều này, vì hơn ai hết ngài đã Biết rằng: “Tất cả là Tâm”.

Linh mục P.B., bạn tôi, ông có trao đổi với tôi rằng: Sám hồi và Cầu nguyện thực ra đã có hàng ngàn năm ở Do Thái trước cả khi Jesus Christ và John The Baptist đến. Vâng đúng vậy; cũng đúng với Thiền, Thiền có trước Gautama Buddha hàng ngàn năm. Sám hồi và Cầu nguyện có trước Jesus Christ hàng ngàn năm, Thiền có trước Gautama Buddha hàng ngàn năm. Nhưng qua Jesus Christ, Sám hồi và Cầu nguyện đã chói sáng lên từ Tình yêu và Lòng biết ơn.

Không có Tình yêu và Lòng biết ơn Sám hồi và Cầu nguyện chỉ đơn giản là hành động xin xỏ, nó không có vẻ đẹp và sự linh thiêng; người Cầu nguyện chỉ là kẻ ăn xin, nô lệ. Cũng vậy qua Gautama Buddha, Thiền đã toả hào quang rực rỡ từ Tinh thần độc lập Tôn giáo và từ ánh sáng tính Buddha, từ ánh sáng của tính Thượng đế trong mỗi một con người. Qua Sám hồi và Cầu nguyện của Jesus Christ, qua Thiền của Gautama Buddha Con người trưởng thành.

Nên, tôi xin phép được chia xẻ rằng Jesus Christ sáng tạo ra điều vĩ đại Sám hồi và Cầu nguyện, cũng vậy Gautama Buddha Sáng tạo ra điều tuyệt vời Thiền và đi vào trong.

8

Ngay sau khi xuất hiện ở thế gian, ngay sau khi nhận phép Sám hối từ St. John the Baptist, Jesus Christ đã gặp Quỷ với Ba Cám dỗ. Jesus Christ đã gặp Quỷ trước tiên, gặp Quỷ để giải mã về ba vecter âm tính. Với Ngài đó là điều cần thiết trước nhất; vì đó là điều lớn lao nhất với Con người, đối với Thần linh và đối với Quỷ. Ngài thẳng thừng từ chối Phép lạ, Quyền uy và Bí nhiệm.

Bí nhiệm, Phép lạ và Quyền uy, nó có trong mọi Tôn giáo. Nó là phản đề, của chính đề: Từ bỏ, Tình yêu và Nhận biết. Từ bỏ, Tình yêu và Nhận biết là ba chiều chính, ba vecter chính của một Tôn giáo chính thống; ba vecter dương tính. Khi một Tôn giáo suy thoái, thoái hoá, mạt thời, ba vecter chính chuyển chiều thành ba vecter âm tính. Tình yêu đựơc đánh tráo bằng Quyền uy, Phép lạ thay thế cho Từ bỏ, Bí nhiệm che mờ Nhận biết.

Đó là trao truyền đầu tiên, của ngài. Ngài quyết liệt, mạnh mẽ, dứt khoát, thẳng thừng từ chối. Ngài không dạy (ngay) bài học: Từ bỏ, Tình yêu và Nhận biết. Không, Ngài chọn ngay phản đề, chọn ngay âm tính. Ngài đã định nghĩa ngay Bóng đêm là gì, trước khi định nghĩa Ánh sáng. Từ chối thẳng thừng Bóng đêm, để mở đường đi tìm Ánh sáng. Đây là điều Minh triết lớn lao, là Con đường Siêu việt. Ngài đã trao truyền một Con đường: Tìm Ánh sáng từ Ánh sáng. Ánh sáng tới Bóng tối sẽ chạy chốn. Ngài không tìm Ánh sáng bằng cách xua đuổi Bóng tối.

Nhưng sau này, chính ngài, đã nhiều lần làm Phép lạ. Ngài đã làm Phép lạ không giống một ai. Milarepa, Padmasambhava thi triển phép lạ để thuần phục Thần thánh và ma quỷ. Sathya Sai Baba sử dụng phép lạ để tạo niềm tin. Jesus Christ đã nhiều lần làm phép lạ, không phải để thuần phục một ai, cũng không phải để tạo một đức tin sùng kính; ngài đã làm phép lạ chỉ vì Tình yêu, vì xây dựng một niềm tin với Tình yêu. “Thượng đế là Tình yêu“. Vậy thì chả có gì phải vướng mắc giáo điều; chả việc gì phải vì giáo điều mà không giúp tha nhân đói khổ, bệnh tật; chả việc gì không đáng làm để tạo niềm tin vào Tình yêu trong trái tim mỗi Con người. Vì đơn giản: “Tất cả là Tâm“.

Và Phép lạ, phải chăng nó cũng rất giản đơn, giản đơn như Hermes Trismegistus đã trao truyền:

Hermetic dạy rằng tất cả ý nghĩ, cảm xúc, lý trí, ý chí, ước muốn, hay bất cứ trạng thái nào của Tâm, luôn đi kèm theo những sự rung động, một phần được phóng ra và thường ảnh hưởng đến tâm trí người khác bằng sự cảm ứng (induction).

Ý nghĩ, cảm xúc, lý trí, ý chí, ước muốn, Tâm trí, Trí tuệ, Tiềm thức và Tâm thức, tất cả đều là String, hoặc cái cơ bản hơn String, hoặc cái vi tế hơn String được phóng ra và ảnh hưởng tới các String khác. Người Thiền có năng lực Tinh thần cao, có thể tác động tới Tâm trí của người khác bằng cách tương tác, thay đổi Tần số Dao động của các String tạo nên Tâm trí người đó; hỗ trợ người khác tăng Tần số Đao động Tâm thức.

Bậc Chứng ngộ tương tác thay đổi Tần số Dao động của các String tạo nên các Vật; như Jusus Christ tạo ra báng mỳ, tạo ra cá. Làm sống lại một cơ thể cũng vậy, thay đổi Tần số Dao động của các String trong cơ thể đã chết. Mức độ là khác nhau. Biến đổi Tần số Dao động của các String tạo nên Tâm trí, Tâm trí có Tần số cao, nó gần tương đồng với Tần số Tâm thức của người tác động, đã khó. Biến đổi Tần số Dao động của các String trong cơ thể, của vật, mức độ phức tạp hơn, khó hơn; phải tương tác vào những vùng Tần số khác hẳn, thấp hơn hàng triệu lần với Tần số Tâm thức của người tác động. Chỉ có thể các Buddha, các Christ làm được. Phải chăng là vậy?

Phải chăng Phép thuật là vậy? Và điều Hermes Trismegistus đã nói, là đúng:

“Ai biết được nguyên lý Rung, người đo nắm được Cây trượng Quyền năng”

Nhưng điều còn đúng hơn nữa:

Tất cả là Tâm; ai nắm được bản chất tinh thần của Vũ trụ, người đo tiến gần tới Chân lý”

9

Xin kết thúc Chủ đề Vật lý học hiện đại và Siêu hình, của chùm ba bài viết này, với những chia xẻ sau:

Tôi không coi Lý chuyết Siêu dây, Học thuyết M nhưng đỉnh cao của Vật lý học hiện đại là Lý thuyết về mọi thứ; cái về mọi thứ chắc không thể gói trong các phương trình, những suy luận logic, những quan điểm Triết học. Nhưng tôi thấy, Lý thuyết Siêu dây, Học thuyết M đã chạm tới bóng của cái mà Siêu hình đã biết từ trước.

Vật lý học hiện đại, Lý thuyết Siêu dây, Học thuyết M và Tính Không, Chứng ngộ, Linh hồn và Thượng đế là hai cấp độ khác nhau. Không thể so sánh. Không thể dùng các phương trình Euler, các phương trình của Edward Witten, các phương trình Năng lượng của Albert Einstein để giải thích Tính Không.

Không thể dùng hình học Lượng tử, hình học Riemann để mô tả sự Đa chiều của Hiện hữu. Không thể dùng Lý thuyết Dao động để giải thích về Tái sinh và Phục sinh. Không thể dùng hiện tượng Cộng hưởng và hiện tưởng Mỏi để giải mã sự Chứng ngộ linh thiêng. Điều đó mãi mãi là không thể. Chỉ có thấy ở đấy hình bóng của Siêu hình trong sự tương đồng với cái Hữu hình.

Tất cả là Tâm.”

Thực tại này đầy ảo ảnh. Nhưng Thực tại này có quy luật của nó. Những: Thuyết Tương đối của Einstein, Nguyên lý Bất định của Werner Heisenberg, Định lý Bất toàn của Kurt Gödel, Lý thuyết Siêu dây, Không gian mười một chiều; Phép Biện chứng của Friedrich Hegel, Chủ nghĩa Hiện sinh của Kierkegaard, của Huserl,… là nhưng phát hiện sáng tạo trong Thực tại này, nó mô tả Thực tại và chỉ là một chiều, một góc, một tầng… của Hiện hữu. Nhưng rồi cũng sẽ biến mất, cũng sẽ xụp đổ, cũng sẽ bị phủ định, như không gian Einstein phủ định không gian Newton, khi Con người chuyển sang trạng thái khác, bước vào một Thực tại cao hơn.

Tôi cũng không làm uyên bác hoá vấn đề, không làm phức tạp hoá những cảm nhận Tâm linh. Mà muốn làm điều ngược lại. Muốn nói rằng các Học thuyết, các Phương trình, các Toán tử, các Chương trình phân tích trên MTDT,… sự nỗ lực của các Nhà Khoa học, các Nhà Triết học; họ chỉ có thể gần như chạm tới, chạm tới cái điều đơn giản và linh thiêng nhất: khi con người buông bỏ, buông bỏ được toàn bộ, con người đó sẽ thấy Hiện hữu. Các Học thuyết đang nỗ lực xấp xỉ tiềm cận tới bóng của Hiện hữu. Và Hiện hữu thì có nhiều bóng, nhiều hình; nhưng dường như Hiện hữu lại đơn giản nhất.
-Cu sy Minh Dat-






Các bài viết khác