TIỂU THỪA – GIẢI THOÁT.

1

Tiểu thừa và những lời dạy trực tiếp từ Gautama Buddha thật giản dị, trực tiếp và thấm đẫm Tình yêu cho Con người.

Trong Thực tại Người, để mang lại Hạnh phúc cho Con người không có gì cụ thể và trực tiếp hơn Bốn Nguyên lý về Khổ: Thực tại Người là Khổ, Nguyên nhân của Khổ, Khả năng chấm dứt Khổ và Con đường Giải thoát khỏi Khổ!

Có bốn loại Khổ. Khổ về Thể xác, thứ mà các con vật cũng biết và trốn chạy. Thứ hai là Khổ về Tinh thần, loại Khổ phổ biến của con người. Con người gây ra và con người chịu đựng. Khổ Tinh thần đến từ các thứ Chủ nghĩa, các loại Đạo đức, các tổ chức Tôn giáo, hôn nhân, văn hoá và văn minh… những thứ tưởng nâng con người lên nhưng luôn đánh chìm con người trong nó. Chính sự lầm lẫn đồng hoá những thứ này mà con người say xưa, hăng hái, nhiệt tình, dâng hiến,… nhưng cũng chính sự lầm lẫn đồng hoá những thứ này mà con người lo lắng, sợ hãi, phiền muộn, tức tối, căm giận… Nguồn gốc loại khổ này tới từ tăm tối, không Nhận biết đúng đã nhầm lẫn đồng hoá.

Loại thứ ba, Khổ đau do Thay đổi. Mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều thay đổi; không có gì dài lâu. Một trải nghiệm là Hạnh phúc là thoải mái, tiếp sau đó là nhàm chán, là phiền phức, thậm trí là đi đến căm ghét. Khổ đã chứa sẵn trong mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh. Nguồn gốc loại khổ này tới từ tăm tối, không Nhận biết đúng rằng mọi vật, mọi việc luôn thay đổi, không dài lâu.

Loại thứ tư, bao trùm mọi hoàn cảnh; mọi Thời gian: quá khứ, hiện tại và tương lai; mọi Thực tại, Thực tại Người, các Thực tại trên Người và dưới Người,… Nguồn gốc của loại Khổ này cũng tới từ Tăm tối. Tăm tối vì đã hiểu biết sai lầm; đồng hoá Sự sống với cái không phải nó, không thấy bản chất của Hiện hữu, bản chất cuả các Thực tại; Tăm tối nên đã đứt đoạn Sự sống, rời rạc thành Cuộc sống hai mặt đối lập, tạo thành Cuộc sống có Thiện có Ác, có Đẹp có Xấu, có ngắn có dài. Tăm tối nên tạo ra Phiền não và Khổ.

2

Sự sống là liên tục. Cuộc sống là đứt đoạn.

Tính liên tục của Sự sống được Gautama Buddha khái quát minh triết trong Mười hai Nhân duyên. Mười hai Nhân duyên là nền tảng chi phối Bốn nguyên lý về Khổ. Tất cả mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều sinh ra từ tập hợp nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh khác nhau; tất cả đều Liên thuộc vào nhau. Mười hai Nhân duyên bắt đầu từ Tăm tối, tới Hoạt động, tới Tâm trí, Hình dáng, Sáu giác quan, Giao tiếp, Cảm giác, Tình cảm, Sở hữu, Hiện hữu, đi tới Sinh và tới Chết. Xuôi theo vòng Mươi hai mối quan hệ là quá trình luân chuyển Ô nhiễm; ngược theo vòng là quá trình Làm sạch diệt trừ Ô nhiễm.

Hiểu được Tính liên tục của Sự sống, Con đường thoát khỏi Khổ được hỗ trợ bằng Ba mươi bảy Nguyên tắc. Bắt đầu bằng Bốn căn bản về Tình thức: Cơ thể, Cảm nhận, Tâm trí và Sự vật; rồi Bốn Nỗ lực: với việc ác đã sinh, chưa sinh, với việc thiện đã sinh và chưa sinh; Bốn Hành động: từ Ước nguyện, tới Tinh tiến, Chú tâm và Quán trí; Năm kỹ thuật: Tín, Tiến, Niệm, Định và Tuệ; Năm Sức mạnh; Tám Con đường đúng và Bảy Thành tựu: Nghĩ đúng đắn, Quán xét đúng đắn, Nỗ lực đúng đắn, Vui vẻ đúng đắn, Tâm nhẹ nhành, Tâm an định, Tâm bình đẳng. Ba mươi bảy Nguyên tắc giúp Con người Thoát Khổ, giúp Con người Giải thoát.

Đó là Căn bản Giáo lý của Tiểu thừa mà Gautama Buddha đã trao truyền; trao truyền để Thoát Khổ, để Giải thoát.

 

ĐẠI THỪA – GIÁC NGỘ.

1

“Lời dạy trong Đại thừa, có lẽ được Gautama Buddha truyền lại trong bối cảnh hoàn toàn vượt thoát mọi khái niệm hiểu biết thông thường về Không gian và Thời gian”.

Đó là lời của Dalai Lama.

Sau khi Gautama Buddha rời khỏi Trái đất, những Người học trò đã ba lần ôn lại các lời dạy của Buddha rồi tập hợp lại thành các sách Kinh; nhưng một điều chắc chắn lời dạy trong Đại thừa không có trong những bộ sách Kình này.

Lời dạy của Gautama Buddha trong Đại thừa đã đến bằng cách khác, truyền thừa thông quá các vị Bodhisattva.

2

Cùng với lời dạy của Gautama Buddha, các học trò của ngài, cũng đóng góp không ít trong nền tảng của Đại thừa. Bắt đầu bằng Long Thọ, Nagarjuna thế kỷ thứ 2; rồi tiếp đến năm vị khác là Thánh Thiên, Aryadeve; Vô trước, Asanga; Thế Thân, Vasubandhu; Trần na, Dignaga; Pháp Xứng, Dharmakirt,… và nhiều người khác nữa.

Tinh tuý của Đại thừa là Tâm kinh. Đại thừa và Tâm kinh dạy về Tính không; nói về cái Không trong Sự sống, trong Thiên nhiên, trong Thượng đế và trong Con người. Trực nhận được Tính không Người Tìm kiếm Nhận biết được Sự sống, Nhận biết được Thiên nhiên, Nhận biết được Thượng đế và Nhận biết được Bản thân; người đó Giác ngộ.

Căn bản của Đại thừa là Giác ngộ, Nhận biết được Tính Liên tục của Sự sống.

 

ĐẠI THỪA – TÍNH KHÔNG.

1

Khoa học của ngày hôm nay, trên nền tảng của 5 giác quan đã biết về Vật chất và Năng lượng ở mức 5%; Khoa học nhận thức được còn 95% Vật chất tối và 95% Năng lượng tối chưa biết tới.

Tất cả Hình dáng đều Không. Con số: 99,9999999999999% này là của Lý thuyết Siêu dây, nó nói rằng tất cả mọi vật chất, là đá, là sắt, là đồng, là Trái đất hay Mặt trời… tất cả đều rỗng vậy, đều trống rỗng như vậy. Mọi hình dáng mà con người nhìn thấy, phải chăng là Tâm trí diễn giải.

Tất cả đều chuyển động, mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều chuyển động; sự chuyển động xảy ra cả bên ngoài và bên trong. Trong tế bào, trong nguyên tử, trong các hạt cơ bản, yếu tố nhỏ nhất vẫn chưa thấy được là String, nhưng nó vẫn luôn chuyển động.

Do chuyển động, chuyển động cả bên ngoài và bên trong nên tất cả mọi sự vật và mọi hiện tượng không thể dài lâu, không phải mãi mãi, Vô thường. Sinh ra và chết đi là quy luật chung.

Sự sinh ra, tồn tại, phát triển và chết của mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều bắt nguồn ra từ tập hợp nhiều nguyên nhân và hoàn cảnh khác nhau. Tất cả đều Liên thuộc với nhau. Vì Liên thuộc vào nhau nên mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều không có Tự tính.

Tất cả đều khác nhau trên nền tảng của sự giống nhau; tất cả đều giống nhau trên muôn mặt khác nhau. Tất cả đều Tương đồng. Vì Tương đồng nên mọi sự vật, mọi sự việc, mọi hiện tượng, mọi kinh nghiệm và mọi sinh linh đều không thiếu, không đủ, không đẹp, không xấu và đều không có Đặc tính. Cái Đặc tính đã được đặt ra, là do Tâm trí của con người…

 2

Thứ Triết học của Tính không như thế, hoặc nhiều hơn nữa chỉ là bước khởi đầu để Hiểu về Tính không. Con đường đi tới Nhận biết về Tính không là: Hiểu, Cảm nhận, Thấy, Biết và Không.

Hiểu được về Tính không thông qua Tri thức, con người đã phần nào mở lòng hơn, biết được được không cần phải tham, không phải sợ hãi, bớt tức tối,… Tiếng Sanskrit gọi giai đoạn này là Sambhara Marga, tiếng Anh là Path of Accumulation.

Giai đoạn thứ hai Cảm nhận, Tiếng Sanskrit gọi giai đoạn này là Prayoga Marga, tiếng Anh là Path of Preparation; Thông qua Thiền và trăn trở khát khao Biết về Tính không những khái niệm thu nhận được từ Tri thức rơi dần, người Tìm kiếm dần Cảm nhận rõ hơn về Sự sống, về Thiên nhiên, về Thượng đế và về Con người; người đó thấy Con người khác và thấy Thiên nhiên Đẹp hơn, vì người đó đã bắt đầu Biết Yêu.

Giai đoạn thứ ba là Thấy, Tiếng Sanskrit gọi giai đoạn này là Darsana Marga, tiếng Anh là Path of Seeing; đi sâu vào cùng Thiền, Người Tìm kiếm rũ bỏ hết những khái niệm thu nhận từ Tri thức. Người Tìm kiếm Thấy được một số điều, không phải là Toàn bộ; Sự sống rõ dần lên; người đó thấy được rằng giữa người đó với với Con người khác, với Thiên nhiên là Một không tách rời; Tình yêu của người đó tràn đầy lên.

Giai đoạn thứ tư là BIẾT, Tiếng Sanskrit gọi giai đoạn này là Bhavana Marga, tiếng Anh là Path of Meditation. Có phải chăng với Người Tìm kiếm lúc này các loại Phiền não, Khổ đau, sân hận, tức tối, tham đắm,… đã rời xa người đó, Tình yêu với Con người với Thiên nhiên và Sự sống trở nên mãnh liệt; có phải chăng là người đó đã BIẾT được Sự sống, Thiên nhiên, Thượng đế và Con người duy nhất chỉ là một Bầu trời đồng nhất với chính nó.

Đó là thời điểm Người Tìm kiếm bước vào giai đoạn KHÔNG, Tiếng Sanskrit gọi Asaiksa Marga, tiếng Anh là Path of No more learning. Người đó Chứng ngộ. Không thể viết gì về điều này được.

 

ĐẠI THỪA – TỪ BI.

1

Tình yêu Đôi lứa Trai gái có Điều kiện, vừa cho vừa nhận; trong dâng hiến, dù dâng hiến tất cả, vẫn có khát khao nhận; nhận được điều: người mình trao tặng biết được điều mình đang dâng hiến. Tình của Mẹ, không còn có Điều kiện cho và nhận, nhưng có Đối tượng; đối tượng làm hại con của Mẹ thì không thể có Tình yêu từ Mẹ. Tình yêu Thày trò trong Tôn giáo có Quan hệ, học trò sẵn sàng chết vì thày, thày hết lòng vì trò; khác tông phái điều đó là không thể. Lòng tốt có Mục đích, cái con người thường lầm lẫn với Tình yêu.

Từ bi là Hợp nhất tất cả các Tình yêu và Siêu việt; không Mục đích, không Điều kiện, không Đối tượng, không Quan hệ; đơn giản là Hành động, là tuôn chảy khi tràn đầy.

 2

Từ bi đến từ đâu?

Từ bi và Tình yêu không thể trao dồi để có, không thể tập luyện để có. Thứ trao dồi, tập luyện là thứ của cơ bắp, của thói quen, của tâm trí,…

“Này các anh chị em ơi, tôi yêu các anh chị em lắm, tôi gửi tình yêu đến anh chị em mỗi ngày”. Đó là khẩu hiểu của những người có Lòng tốt, nhưng chưa biết Yêu. Người biết Yêu, họ không ý thức được mình đang Yêu, họ không hô to như thế; đơn giản họ thấy hân hoan, họ thấy Tha nhân thật đẹp và Thiên nhiên cũng thật đẹp; nếu có la lên, họ nói rằng: Sự sống thật tươi đẹp và tôi Hạnh phúc quá… Người hô to lên tôi yêu mọi người, là người đang có mục đích.

Thực tập Yêu nhiều, con người đỡ sân hận hơn. Thực tập Yêu nhiều, người đó gửi vào Thiên nhiên những rung động êm đềm, rung động đó hấp dẫn những rung động tương tự đến với họ. Người thì gọi quy luật này là Luật Hấp dẫn, người khác thì gọi là Luật Nhân quả; Nó là Luật của Thiên nhiên, của Vũ trụ, của Sự sống; nhưng không có một Thượng đế nào cân đong để thưởng hoặc phạt theo Quy luật này cả. Luật Nhân quả, hay Luật Hấp dẫn đảm bảo cho Người Tìm kiếm đi tới Trưởng thành trong quá trình Phát triển.

 3

Và… Từ bi đến từ Nhận Biết; Nhận Biết tính Liên tục của Sự sống, Nhận Biết Tính không. Con đường đi tới Nhận biết về Tính không là: Hiểu, Cảm nhận, Thấy, BIẾT và KHÔNG. Hiểu chưa thể Siêu việt Tình yêu thành Từ bi. Cảm nhận là bậc thềm đầu tiên. Thấy là bước đi lên, nó chưa tới Độ cao của Chuyển hoá. BIẾT là sự Chuyển hoá hoàn toàn, là Siêu việt.

Nhận Biết rằng Sự sống này Liên thuộc và Tương đồng. Vậy thì không thể có cái này đối nghịch với cái kia, vậy thì không cần đấu tranh tiêu diệt cái đối lập, vậy thì không còn sợ hãi, giận dữ, bạo hành, căm ghét và hoài nghi,… Năng lượng sẽ còn đó, nó Chuyển hoá thành Bạo dạn, Trìu mến, Thân thiện, Bao dung và Tin cậy; những thuộc tính của Từ bi.

Nhận Biết rằng Sự sống này Vô thường và Không có Tự tính. Vậy thì không thể tham đắm, không thể say mê. Năng lượng không mất đi cho những điều như thế, có Chuyển hoá thành An nhiên, thành Tỉnh táo; những điều kiện để Từ bi tuôn chảy…

Cùng với Tính không, Từ bi là thuộc tính thứ hai của Đại thừa. Để Giác ngộ, Người Tìm kiếm có hai điều kiện, Điều kiện Cần: Nhận Biết Tính không, Điều kiện Đủ: Từ bi bừng nở và tỏa hương
-Cu Si Minh Dat-

Các bài viết khác